#1
|
||||
|
||||
![]() Da1 thấy người ta nói một người có thể có các tên sau: tên huý, tên thuỵ, tên tự, tên hiệu, tên chính danh. Vậy thì làm sao để phân biệt mỗi loại tên? Có ai định nghĩa và cho ví dụ dùm da1 hông?
![]() |
#2
|
|||
|
|||
![]() Trích:
Cũng có thể dành cho những vị Phật giáo. Trong Phật giáo, thuỵ hiệu là tên đặt cho người đã mất, vì cảm niệm đức hạnh của họ mà người đời sau truy tặng. Trần Thái Tông khi mất được tôn thụy hiệu là Thống Thiên Ngự Cực Long Công Hậu Đức Hiền Công Hựu Thuận Thánh Văn Thần Vũ Nguyên Hiếu hoàng đế. Tên húy là tên do bố mẹ đặt cho khi mới đẻ, ngày xưa người ta kiêng không gọi đến. Tên tự còn gọi là tên chữ. Sau năm 20 tuổi, tên chữ sẽ được đặt thay cho tên gọi như một biểu tượng của sự trưởng thành và kính trọng. Tên chữ chỉ thường dùng cho nam giới, và thường do cha mẹ đặt tên, cũng có thể là thầy giáo đầu tiên trong buổi học đầu tiên đặt cho, hay thậm chí do chính bản thân tự đặt cho mình. Truyền thống sử dụng tên chữ đã biến mất dần từ năm 1919. thí dụ như Gia Cát Lượng có tên tự là Khổng Minh Tên hiệu? Theo tiếng Hán Việt, "hiệu" có nghĩa là tên được đặt thêm. (tên do bố mẹ đặt thì gọi là húy danh, không gọi húy hiệu) Quốc Hiệu là tên một nước. Thụy hiệu là tên thụy. Vậy tên hiệu là... tên tên ![]() Hiệu là tên được đặt thêm của các nhà văn sĩ, thi sĩ... Thời đại tân tiến bây giờ, nickname chắc cũng là hiệu luôn ![]() thay đổi nội dung bởi: Củ Cải, 11-03-2012 lúc 10:43 PM. |
#3
|
||||
|
||||
![]() Ngày xưa các nho sĩ, những người có học thường có nhiều tên:
1/ Tên húy là tên thực do cha mẹ đặt từ nhỏ. 2/ Tên chữ hay tên tự là tên gọi của một người vào thời gian trưởng thành của cuộc đời. Tên chữ thường có hai âm và thường dựa trên ý nghĩa của tên thực. Tên chữ thường do cha mẹ đặt tên, cũng có thể là thầy giáo đầu tiên trong buổi học đầu tiên đặt cho, hay thậm chí do chính bản thân tự đặt cho mình. Theo quyển Lễ ký, sau khi một người đàn ông đến tuổi trưởng thành, sẽ rất thiếu kính trọng khi những người cùng lứa gọi ông ta bằng tên thực. Vì thế, tên thực chỉ dùng khi một người tự nói về bản thân mình hoặc để một người lớn hơn gọi, còn tên chữ sẽ được những người ngang lứa gọi nhau một cách long trọng hoặc dùng trong văn bản, nên mới được gọi là tên chữ. Tục ngữ có câu: "Nhập gia vấn huý" tức là theo phép xã giao, trước khi đến thăm một gia đình cần tìm hiểu tên Huý của ông bà cha mẹ và bản thân tên người mình định đến thăm, để tránh trong khi nói chuyện hoặc xướng hoạ thơ từ động đến tên huý gia tiên người ta "Huý" đồng nghĩa với "kỵ" (tức là kiêng kỵ). Ngày giỗ tức là huý nhật hay kỵ nhật. Tên huý là tên chính nhưng lại là tên kiêng nói đến, khi giận nhau người ta đè tên huý ra mà chửi. Ông bà, cha mẹ, chú bác có thể gọi con cháu bằng thằng nọ con kia theo tên huý, kể cả những người cao tuổi trong làng xóm. Trong ngôn ngữ thông thường có trùng âm cũng phải nói tránh đi, nếu không sẽ bị coi là hỗn. 3/ Tên hiệu thường là tên của trí thức thời phong kiến tự đặt thêm cho mình bên cạnh tên vốn có, thường là một từ ngữ Hán-Việt có nghĩa đẹp đẽ. Theo định nghĩa của học giả Trung Quốc Sheau Yueh J. Chao, tên hiệu là tên của nhà nho dùng để ghi dấu nơi chốn một người được giáo dục về mặt tri thức và đạo đức, đồng thời là nơi dùng để sáng tác hay biên soạn các tác phẩm văn chương, học thuật. Ngoài ra, các nhà nho cũng dùng tên hiệu để biểu lộ lý tưởng, đức tính, ý muốn, sở thích của mình. Tên loại này có hai chữ: chữ đầu để diễn tả tinh thần hay khung cảnh làm việc, chữ thứ hai chỉ nơi chốn làm việc. Để chỉ nơi chốn, các cụ thường dùng các chữ: Trai, Hiên, Am, Đường, Vân. Thí dụ: Nguyễn Trãi _Ức Trai, Nguyễn Du_ Thanh Hiên, Nguyễn Cư Trinh_Đạm Am, Lê Quý Đôn_Quế Đường, Chu Mạnh Trinh_Trúc Vân Cũng có thể lấy từ cổ văn hay điển tích để nói lên triết lý sống của mình. Thí dụ: Học giả Phạm Quỳnh lấy tên hiệu là Thượng Chi từ một câu trong Kinh Thi "Thượng Chi Dĩ Quỳnh Hoa Hồ Nhi", nhà cách mạng Phan Bội Châu lấy hiệu là Sào Nam từ điển tích Việt điểu sào nam chi. 4/ Biệt hiệu là tên hiệu nói lên một đặc điểm riêng nào đó của một người. Chỉ một số ít nho sĩ đặt biệt hiệu sau khi đặt tên tự và tên hiệu. Thí dụ Nguyễn Thiếp biệt hiệu La Sơn Phu Tử (ông thầy ở huyện La Sơn); Nguyễn Du biệt hiệu Hồng Sơn Lạp Hộ (người thợ săn ở núi Hồng Lĩnh); Phạm Quý Thích biệt hiệu Thảo Đường cư sĩ (cư sĩ ẩn mình trong nhà cỏ). 5/ Tên thụy của nho sĩ do những người còn sống đặt cho một người đã qua đời, đôi khi có người còn sống tự đặt cho mình và có hai loại: công thụy và tự thụy. Công thụy là do vua đặt và tư thụy là do con cháu, bà con, bạn bè, môn đệ đặt cho. Tên thụy thường nhằm để ca tụng tài đức của người quá cố nên còn được gọi là "tên tụng" hay "tụng hiệu", gần giống với "tôn hiệu" và để biểu thị sự tôn kính. Chu Văn An được vua Trần Nghệ Tông đặt cho thụy là Văn Trinh và được học trò tôn hiệu là Tuyết Giang Phu tử. Chính danh chỉ có nghĩa là tên chính. Ngoài ra còn có tên tục là tên do cha mẹ đặt lúc mới sinh, chỉ gọi lúc còn bé, thường dùng từ Nôm và xấu để tránh sự chú ý, đe dọa của ma quỷ. Thí dụ: Cu, Tèo, Tí. Người Trung Quốc gọi là tiểu danh hay nhũ danh, được đặt lúc đứa bé mới sinh và cũng có ý nghĩa xấu. Gọi là nhũ danh vì tên này được đặt lúc đang bú. Trong tiếng Hán, nhũ có nghĩa là vú nên các nhà tính danh học Mỹ dịch chữ nhũ danh là Milk Name (tên sữa). Theo Elsdon C. Smith, tiểu danh hay nhũ danh chỉ có một từ, nhưng được thêm âm A vào đàng trước. Ví dụ A Man là tiểu danh của Tào Tháo, và A Đẩu là tiểu danh của Lưu Thiện, con của Lưu Bị. Khi lớn lên, người Trung Quốc không dùng tiểu danh hay nhũ danh nữa. Và lúc này, ai dùng tên đó để gọi, thì đó là một điều sỉ nhục cho người ấy. Đọc Tam Quốc Chí, mỗi lần đối thủ tức tối gì với Tào Tháo, ta thấy thường lôi tiểu danh Tào Tháo ra chửi: “thằng Tào A Man”. Ngày nay, thường hiểu nhũ danh là họ tên thật của người vợ bên cạnh cách gọi theo họ tên chồng. Ví dụ: Bà Ngô Đình Nhu, nhũ danh Trần Lệ Xuân. Vài thí dụ: _ Nguyễn Công Trứ, tự Tồn Chất, hiệu Ngộ Trai, biệt hiệu Hy Văn _ Nguyễn Du, tự Tố Như, hiệu Thanh Hiên, biệt hiệu Hồng Sơn lạp hộ _ Nguyễn Thiếp, vốn có tên húy là Minh, sau vì kiêng húy vua chúa nên đổi là Thiếp, tự là Quang Thiếp, hiệu là Hạnh Am, biệt hiệu là La Sơn Phu Tử
__________________
Sầu mong theo lệ khôn rơi lệ Nhớ gởi vào thơ nghĩ tội thơ (Quách Tấn) ![]() |
#4
|
||||
|
||||
![]() Củ Cải và thầy AH giỏi quá hà, giải thích sao mà rõ ràng rành mạch thía ko bít
![]() Vậy chứ cho da1 hỏi tên Ái Hoa và Củ Cải thuộc tên gì trong mấy loại tên ở trên? |
#5
|
|||
|
|||
![]() Trích:
Cũng như da1 có nick... "Ngò gai" vậy đó. Hay... "Jasmin" ? |
#6
|
||||
|
||||
![]() Trích:
![]() Nếu biết da1 rõ vậy thì chắc Củ Cải cũng biết Cafe luôn hử? Chắc da1 phải réo Cafe dzô "thẩm định" Củ Cải là ai quớ ![]() |
![]() |
Ðiều Chỉnh | |
Xếp Bài | |
|
|