Biên hoang truyền thuyết
Hồi 45
Sĩ thứ chi biệt
Cao Bằng lâu cao hai tầng, tầng dưới thông suốt, đặt hơn ba chục cái bàn, nhưng đâu đâu cũng đông nghẹt người, chẳng còn chỗ nào trống. Khách đông vô kể, không ít người còn ở ngoài cửa chờ thế chỗ.
Đúng là Cao Ngạn không nói láo về Cao Bằng lâu.
Cao Ngạn thấy tình hình như vậy, ỉu xìu nói: “Cái bụng ta có thể chờ, nhưng Yến đại công tử nhà ta một khắc cũng không thể chờ thêm được! Thôi vậy! Ăn cơm chay thì cơm chay!”.
Lương Định Đô ưỡn ngực hùng dũng nói: “Chúng ta lên lầu”.
Yến Phi ngạc nhiên: “Dưới lầu đã như thế này, chẳng lẽ trên lầu lại có bàn trống sao?”.
Cao Ngạn nói: “Trên lầu đúng là không có bàn trống, chỉ có những sương phòng trải chiếu mà ngồi, chuyên dành cho khách cao môn đại tộc, mỗi lần ta đến đều ngồi dưới lầu ăn cơm, ta không có hứng thú lên đó, ngồi dưới lầu thoải mái biết bao”.
Yến Phi hoang mang, nguyên trên lầu cấm hàn môn lai vãng, cho nên bất luận Cao Ngạn có tiêu tiền như nước, cũng vẫn không đủ tư cách lên đó, giai cấp phân minh. Thú vị là dưới lầu chỗ ngồi bố trí bàn ghế theo kiểu người Hồ, trên lầu thì lại theo truyền thống trải chiếu mà ngồi của người Hán, tửu lầu này quả thực tràn đầy phong tình hỗn hợp Hồ Hán. Đồng thời cũng cho người ta thấy sự khác biệt trong cuộc sống của người Hồ người Hán. Trong khi thế tộc Kiến Khang vẫn kiên trì truyền thống, bên dưới hàn nhân đã mở rộng lòng đón nhận phong tục tập quán của người Hồ bắc phương.
Lương Định Đô nói: “Chân cẳng trọng yếu hay là ăn thịt dê trọng yếu hơn, xin Cao công tử mau quyết định. Bất quá quán ăn có bày bàn ghế giống như Cao Bằng lâu thực không nhiều, gần nhất cũng phải đi bộ thêm một lúc nữa mới tới”.
Một phủ vệ khác tên là Trương Hiền cười tinh quái hùa theo: “Cao công tử chỉ cần ăn đùi dê để lấy hình bổ hình, tất có thể đi đến khi chân cẳng mỏi nhừ, cặp giò biến thành giống như đùi dê thông sướng hữu lực”.
Trương Hiền rõ ràng muốn giúp Lương Định Đô hí lộng Cao Ngạn, ba tên phủ vệ còn lại cùng cười phá lên.
Cao Ngạn rớt xuống hạ phong, mặt đỏ bừng lên.
Yến Phi rất lấy làm kỳ, xưa nay Cao Ngạn ở Biên Hoang Tập suốt ngày tí tởn nô đùa, mặt dày đến mực đao thương bất nhập, sao lại dễ đỏ mặt như thế?
Bỗng nhiên tỉnh ngộ, hiểu ra vấn đề, thì ra là do phân biệt cao môn hàn môn, tại đô thành Kiến Khang, hàn nhân đi đâu cũng bị kỳ thị, gặp vô số hạn chế.
Gã Hoang nhân Cao Ngạn này lại là hàn môn trong đám hàn môn, tuy rằng trong túi sẵn tiền, nhưng vẫn khó tránh khỏi bị khinh rẻ, cũng vì tự ti thân phận Hoang nhân mà hắn tự làm khổ mình, không sao chịu nổi người khác coi thường.
Đám Lương Định Đô tuy rằng vì Tạ Huyền mà có quan hệ đặc biệt, đối với chàng hết sức khách khí, nhưng bên trong lại không coi thuận mắt Cao Ngạn.
Liền giải vây cho Cao Ngạn, nói: “Lương huynh đã có biện pháp lên lầu, chúng ta lên đó ăn đùi dê thôi”.
Cao Ngạn lập tức thừa cơ phản kích, cười nói: “Tiểu Lương ngươi chí ít cũng có nửa thân phận danh sĩ, đương nhiên nhiều biện pháp hơn bọn ta”.
Lương Định Đô bị Cao Ngạn thích trúng chỗ yếu hại, lập tức biến sắc, lại muốn đáp ứng Yến Phi, liền tiến vào cửa lớn, trong lòng tuy rất hận, nhưng biết là mình là kẻ gây chiến trước, cũng không thể không nể mặt Yến Phi, tuy biết rõ Cao Ngạn nói kháy mình là nô tài cao môn, cũng đành hậm hực làm thinh.
Cao Ngạn với vẻ mặt đắc thắng theo sau hai người, bọn Trương Hiền láo nháo theo sau, đều có cảm giác không ổn. Trước kia tuy có theo chủ nhân bước qua hàn môn cấm địa, nhưng đây là lần đầu tiên phá lệ bằng lực lượng của mình vượt qua cửa ải này.
Hai đại hán coi đường lên lầu nhận được Lương Định Đô, nhưng lại nhìn không ra gốc gác Yến Phi, nhìn y phục gã giống như một văn sĩ hàn môn, còn Cao Ngạn ăn mặc ra dáng thế tộc danh sĩ, bèn chuyển sự quan tâm sang bên hắn, khách khí hỏi: “Vị công tử này...”.
Lương Định Đô vội tiến lên một bước, ghé vào tai đại hán nói mấy câu, đại hán lập tức kinh hoảng, cất giọng lanh lảnh: “Hoan nghênh công tử đại giá quang lâm, xin mời lên lầu!”. Lương Định Đô đắc ý quay đầu về phía mọi người thị uy khoe công, đang muốn ra vẻ nháy mắt hay làm mặt xấu, bỗng nhiên sắc mặt biến đổi, ngơ ngác như gà gỗ.
Yến Phi và Cao Ngạn mấy người cũng đã nghe thấy phía sau có tiếng nói cười, quay đầu nhìn lại, ngay đằng sau bọn họ có bảy tám người cả nam lẫn nữ cũng đang muốn lên lầu, đám Trương Hiền cũng giống như Lương Định Đô lập tức hoảng sợ mặt mũi trắng bệch, im bặt như ve sầu mùa đông.
Cao Ngạn thì hai mắt lóe sáng, trợn trừng nhìn hai thiếu nữ đẹp như thiên tiên trước mặt.
Yến Phi nhìn qua liền hiểu ngay, cũng thầm kêu bất diệu, lại hoàn toàn không nghĩ ra cách gì hay để giải nguy cho Lương Định Đô.
Người tới là nhi nữ của Tạ Huyền - Tạ Chung Tú, đang tay trong tay với nàng ta là một thiếu nữ còn kiều mị hơn, thiên sinh lệ chất, khiến người đảo điên thần hồn, Tạ Chung Tú so với nàng ta cũng phải nhượng bước vài phần.
Cùng đi với bọn họ có sáu người rõ là con em thế gia đại tộc, ai nấy y phục hoa lệ, có bốn gã trong đó bọn Yến Phi từng gặp qua ở Tạ phủ, tranh nhau nịnh bợ Tạ Chung Tú.
Tạ Chung Tú hiển nhiên nhất thời không hiểu rõ có chuyện gì, thứ trước tiên nàng trông thấy chính là Cao Ngạn đang nhìn như muốn nuốt chửng khuôn mặt xinh đẹp của nàng, liền thoáng hiện vẻ không vui, tiếp đó mục quang chuyển qua Yến Phi, làn mi khẽ động tỏ ra nhận ra chàng, thần tình quyến rũ cực điểm.
“Đừng có cản đường!”.
Bên cạnh hai nữ tử có một thanh niên nam tử cao lớn anh võ, không nhẫn nại bực bội quát lên với bọn Yến Phi, bất quá so với Yến Phi hắn vẫn còn thấp hơn hai ba tấc, chỉ bằng với bọn Cao Ngạn, Lương Định Đô.
Mục quang Tạ Chung Tú cuối cùng chuyển đến Lương Định Đô, ngạc nhiên nói: “Tiểu Đô! Ngươi làm gì ở đây?”.
Trương Hiền hết sức ranh mãnh, thấy đầu tử Lương Định Đô tắc họng không nói được gì, vội thi lễ nói: “Bẩm tiểu thư, bọn tôi phụng mệnh Tống gia, theo hầu Yến Phi công tử và Cao Ngạn công tử”.
Tạ Chung Tú thông tuệ hơn người, đã minh bạch Lương Định Đô đang chơi trò gì đấy, làn mi cong hơi động, Lương Định Đô và đám Trương Hiền vội kéo Yến Phi, Cao Ngạn qua một bên nhường đường lên lầu.
Thanh niên hán tử nọ lại giận dữ hừ lên một tiếng, giọng đe dọa: “Đám nô tài các ngươi lại dám cản đường bổn công tử sao”.
Rồi hung hăng dẫn đầu cả bọn kéo nhau lên lầu. Hai đại hán trông giữ ở đó vội cung kính vái chào, chỉ sợ đắc tội hắn.
Thiếu nữ tay cầm tay Tạ Chung Tú nãy giờ không nói một lời, thần thái ôn nhu văn nhã, cũng không để ý đến bọn Yến Phi, giữ phong độ con nhà danh gia vọng tộc, khiến người ta cảm thấy nàng thật cao vời vợi.
Tạ Chung Tú thì hầm hè nhìn Cao Ngạn, lại kỳ quái hắn vẫn không rời ánh mắt ngắm nghía mình, mới dắt tay mỹ nữ kia đăng lâu, đám thanh niên vội vàng hộ tống bọn họ kéo đi, để lại bọn Lương Định Đô người nọ nhìn người kia, không biết hậu quả rồi sẽ thế nào.
Tận đến lúc bóng dáng người đẹp biến mất, Cao Ngạn hồn phách mới trở về, thở dài một tiếng nói: “Hồng hồng biếc biếc cái gì, đại Kiều tiểu Kiều đều phải dựa vào kẻ khác!”. Lương Định Đô nghe nói giận dữ nói: “Ngươi nói gì?”.
Cao Ngạn thấy Lương Định Đô, Trương Hiền mấy gã đều trừng mắt giận dữ nhìn mình, biết rằng lời nói gây họa, đầu hàng nói: “Chẳng gì cả! Coi như không nghe thấy thôi!”. Đại hán trông coi thang lầu nghi ngờ hỏi: “Các vị không phải là muốn lên lầu hay sao?”.
Lương Định Đô vội lắc đầu nói: “Để lần sau đi!”.
Nói rồi kéo Yến Phi mau chóng ly khai Cao Bằng lâu.
Yến Phi và Cao Ngạn đưa mắt nhìn nhau, cả hai đều cảm thấy buồn cười.
Cao Ngạn ngầm đẩy Yến Phi một cái, Yến Phi biết ý, hiểu là Cao Ngạn muốn gã xuất đầu, thay hắn dò hỏi lai lịch thiếu nữ nọ, bèn mỉm cười nói: “Cái tên lớn lối vừa rồi là thần thánh phương nào vậy?”.
Mọi người lúc này đã ra đến ngoài đường, tiếp tục men sông kéo nhau đi, trên trời mây che tầng tầng lớp lớp, gió bắc thổi ầm ầm, nhưng không chút ảnh hưởng đến tình hình náo nhiệt trên đường phố.
Cao Ngạn thầm khen Yến Phi hỏi han thật khéo léo, nếu trực tiếp hỏi chuyện liên quan đến con gái nhà người ta, thì hóa là kẻ lãng tử vô hạnh sao, càng thấy rõ Yến Phi coi hắn như bằng hữu, bằng không với tính cách của Yến Phi, đâu thèm quản chi cái con mẹ ngươi.
Một tên phủ vệ tên là Phùng Hoa Thương nói: “Tiểu tử đó tên là Tư Mã Thác, là nhi tử của Tư Mã Thượng, cậy có lão gia hắn thân cận với Hoàng thượng, hắn có hiệu là 'Tung hoành kiếm khách', trong cái lũ Kiến Khang Thất công tử của Tư Mã Nguyên Hiển, hắn xếp hàng thứ ba, thật không hiểu được tiểu thư nhà ta vì sao chịu cùng kẻ có ác danh rõ ràng như vậy nhập bọn cùng đi chứ?”.
Trương Hiền cười khổ: “Đâu đã đến mấy tên hạ nhân chúng ta quản chuyện của tiểu thư, về đến phủ rồi ngàn vạn lần chớ có nói ra, nếu tiểu thư biết được là do bọn ta bép xép, cả bọn đều gặp chuyện chẳng hay hớm gì đâu”.
Lương Định Đô trong lòng vẫn đầy lo lắng, không trả lời.
Cao Ngạn thấy Yến Phi không có ý hỏi tiếp, không nhẫn nại được đành thân xuất mã nói: “Trong đám còn những kẻ nào nữa?”.
Lương Định Đô lập tức phát hỏa: “Đều do ngươi không tốt, con mắt gian giảo cứ dán vào Tú tiểu thư với Chân tiểu thư, không có chút lễ số nào cả, khiến tiểu thư tròng lòng mất vui, đến khi về ta nhất định phải chịu khốn khổ, ngươi vỗ đít mấy cái là có thể thoát thân, chỉ khổ cho ta”.
Yến Phi thấy gã vừa nhìn mình vừa trách Cao Ngạn, hiển nhiên vì sợ phải chịu trách nhiệm nên ngay cả mình cũng không nể mặt, cảm thấy rất mất hứng. Càng nghĩ đến trong mắt đám người dưới của cao môn đại tộc như Lương Định Đô, chàng và Cao Ngạn chỉ là hai tên Hoang nhân bé nhỏ! Căn bản không đáng để bọn chúng coi trọng, bình thời chỉ vì trên đầu có mệnh lệnh, cho nên mới khách khí, đến khi có chuyện, lập tức để lộ đuôi.
Liền giơ tay ngăn Cao Ngạn khi đó đã tức đỏ mặt định nói, mỉm cười nói: “Nếu có chuyện gì sai, có thể đổ hết lên đầu Yến mỗ! Lương huynh không cần lo lắng, bọn ta Hoang nhân lúc nào cũng là những kẻ hoang dã ở Biên Hoang, xưa nay không hiểu quy củ, cũng không cần quy củ! Lương huynh xin cùng các huynh đệ cứ về phủ trước, ta và Cao Ngạn sẽ tự kiếm chỗ ăn uống”.
Cao Ngạn giơ ngón tay cái nói: “Nói rất hay! Bao nhiêu phiền muộn ta tích lũy lâu nay ở Kiến Khang đã nói ra được hết!”.
Lương Định Đô giật mình kinh hãi, biết rằng mình đã nặng lời, đụng chạm đến Yến Phi, nhớ lại Tống Bi Phong đinh ninh dặn dò tiếp đãi và bảo hộ Yến Phi, liền cảm thấy việc tính toán với tiểu tử Cao Ngạn chẳng còn gì quan trọng, hoang mang cười: “Ta nhất thời lỗ mãng, xin Yến công tử đừng trách!”.
Trương Hiền phụ họa: “Yến công tử đại nhân đại lượng, xin bỏ qua cho Lương đại ca nhất thời thất ngôn”.
Yến Phi lúc ấy mới biết đã cho Lương Định Đô một bài học! Quay nhìn thấy một gian quán bên ngoài, bèn cười nói: “Vậy nếu chúng ta tới gian quán kia thì sao nhỉ? Ta không còn đủ sức đi nữa rồi!”.
Cao Ngạn nói: “Bọn ta ngồi riêng một bàn, huynh đệ bọn ta còn có mấy chuyện riêng cần bàn”.
Lương Định Đô biết hắn định mượn gió bẻ măng, chửi thầm trong bụng. Bề ngoài lại không thể không đáp ứng, cúi đầu ỉu xìu theo Cao Ngạn vào quán.
o0o
Hoàn Huyền ngạo nghễ đứng trên thuyền, thở phào một hơi, trong lòng tràn đầy hào tình tráng chí, phong quang ngày hôm nay thật không dễ dàng.
Phù Kiên bại trận phản hồi phương bắc, tháng mười hai về tới Trường An, nhưng bắc phương đã không còn là bắc phương của quá khứ, thủ hạ chư tướng Hồ tộc lần lượt làm phản.
Phù Kiên ngày giờ quả thật không còn nhiều.
Hắn cùng với Tạ Huyền giống như đua nhau, thừa cơ thu phục đất đai rộng lớn ở phương bắc, trong khi Tạ Huyền công chiếm Bành thành, rồi tiếp tục tiến công Lương châu, tiến thẳng đến Hoàng Hà, đánh chiếm các trọng trấn quân sự vùng Hà Nam của đại Tần, hắn thì phái Triệu Thống thu phục Dịch Dương và các thành trấn phụ cận, uy thế áp thẳng đến Lạc Dương.
Hiện tại hắn làm công tác chuẩn bị để công đả Lạc Dương, dẫn một vạn rưỡi tinh binh, cưỡi thuyền ngược sông tiến về phía tây, tấn công Ba Thục, để loại bỏ uy hiếp về phía tây Kinh Châu, đồng thời khuếch trương thế lực.
Ba Thục luôn là mảnh đất lương thực dồi dào, tài nguyên phong phú, có xứ này làm hậu thuẫn, hắn tiến lui đều thuận tiện, đến khi đó còn sợ gì Tạ Huyền?”.
Gió sông thốc vào mặt, y phục bay tung, Hoàn Huyền tay nắm chuôi đao đứng đó, đích thực khí khái ít ai bì.
Hầu Lượng Sinh đến sau lưng báo cáo: “Vừa có tin từ bắc phương tới, Phù Kiên sau khi xử tử con trai của Diêu Trường, lại mang Mộ Dung Huy ra chém đầu”.
Hoàn Huyền động tâm nói: “Chuyện này đủ để thấy Phù Kiên đã đến bước cùng đường, cho nên mới bất chấp hậu quả”.
Mộ Dung Huy là kẻ kế vị ngai vàng cuối cùng của Yên quốc khi nước này mất vào tay Phù Kiên, thân huynh của Mộ Dung Hoằng, Mộ Dung Trọng, Mộ Dung Vĩnh đám người đã phản Tần, vì không kịp trốn khỏi Trường An, bị Phù Kiên trút giận lên đầu chém chết.
Hầu Lượng Sinh lộ một nét cười trên khóe mắt, nhạt giọng nói: “Phù Kiên như chó chạy đường cùng, phát điên rồi”.
Hầu Lượng Sinh ba mươi bảy tuổi, là danh sĩ gốc Kinh Châu, phong thái lịch sự, nho nhã hơn người, rất nhiều mưu lược, được Hoàn Huyền coi là mưu sĩ tâm phúc. Hoàn Huyền im lặng suy nghĩ một lát, trầm giọng nói: “Quét sạch Ba Thục đối với ta dễ như trở bàn tay, nhưng bước tiếp sau nên làm gì?”.
Hầu Lượng Sinh đã có sẵn chủ kiến, đáp: “Chuyện này Lượng Sinh mấy tháng nay nhiều lần suy tính, cuối cùng đã nghĩ ra một kế vạn toàn một hòn đá ném chết hai con chim”.
Hoàn Huyền rất mừng rỡ: “Mau nói ra xem nào”.
Hầu Lượng Sinh nói qua loa: “Chính là từ chối không thụ chức Đại tư mã!”. Hoàn Huyền ngạc nhiên thất thanh nói: “Thế nào?”.
Hầu Lượng Sinh nhắc lại một lượt.
Ánh mắt Hoàn Huyền rừng rực chăm chú nhìn Hầu Lượng Sinh, mơ mơ hồ hồ nói: “Đệ kế huynh nghiệp, là công đạo của trời đất, mà từ xưa đến nay, chức Đại tư mã đều do các đời Hoàn gia ta nắm giữ, ai dám nói một câu, ta thực không coi ra từ chối ngôi vị này có gì hay đối với ta?”.
Hầu Lượng Sinh ung dung nói: “Chuyện hay có vô số, đầu tiên có thể mê hoặc tâm lý họ nhà Tư Mã, để Tư Mã Diệu tên hồ đồ ấy cho rằng Nam quận công người không tham gì chức Đại tư mã, làm bớt đi địch ý từ trước tơi nay của hắn đối với ngài”.
Hoàn Huyền do dự nói: “Vị trí này ta được không dễ, khổ cho Tư Mã Đạo Tử thừa cơ thao túng Tư Mã Diệu hòng tước đoạt binh quyền trong tay ta, mới hay chỉ chuốc lấy phiền não”.
Hầu Lượng Sinh điềm đạm nói: “Danh là hư, quyền là thực. Mà quyền lực lại không thể quan trọng như binh quyền. Hiện giờ quân quyền Kinh Châu vẫn do Nam quận công nắm chặt trong tay, ai dám đến mà tước đi binh quyền của Nam quận công. Là Đại tư mã hay không Đại tư mã chẳng quan hệ gì, hay nhất là Nam quận công không nhậm chức Đại tư mã, vẫn không người nào dám ngồi lên vị trí ấy. Kẻ duy nhất có tư cách là Tạ Huyền, ngài nói xem huynh đệ Tư Mã Diệu có chịu để cho hắn cái vị trí ấy hay không? Ta bảo đảm Tạ An đến đề xuất cũng chẳng dám đề xuất”.
Hoàn Huyền nghe thuyết đến mức động tâm, gật đầu nói: “Tư Mã Diệu đã giảm đi nghi kỵ với chúng ta, lập tức mang nỗi nghi ngờ chuyển sang phía Tạ An và Tạ Huyền, đấy chính là đệ nhị ô, nhất thạch nhị điểu! Ha! Đệ nhị điểu.1“.
Hầu Lượng Sinh phân tích mạch lạc: “Tâm ma của Tư Mã hoàng triều vĩnh viễn không thể khu trừ hết được, mà điều ám ảnh vĩnh viễn tồn tại trong đó chính là bọn họ lập quốc bằng cách dùng sức đoạt ngôi của họ Tào. Chính bọn họ hiểu rõ hơn bất kỳ ai, rằng quyền thần không phải là người dễ dàng bảo sao nghe vậy, mà là những kẻ đủ sức lật nhào cả quốc gia. Nếu bọn họ không cần phòng bị Nam quận công nữa, ý thức đề phòng liền chuyển sang
chú cháu Tạ An, bọn họ một mặt được triều đình sủng ái, một mặt thì quân công cái thế, huynh đệ Tư Mã Diệu há lại để bọn họ ngồi yên sao, như vậy, tức là ngài có thể trừ khử cái chướng ngại to lớn nhất mà không cần mất một tên lính”.
Hoàn Huyền nắm chặt tay than: “Chuyện này vì sao ngươi không nói với ta sớm một chút?”.
Hầu Lượng Sinh từ tốn nói: “Vì thời cơ chưa tới, Nam quận công trước tiên ngồi lên vị trí đó, rồi lại từ chối không nhận, như thế mới có thể hiển lộ rõ khí tiết cao quý của Nam quận công, có thể tranh thủ được lòng người. Lời lẽ chối từ, phải nói là vì quân công chưa đủ, như vậy, khác nào bức triều đình phải lấy hư vị để đối đãi. Mà Nam quận công là do Tạ An thân tiến cử với Tư Mã Diệu mà được ngồi ở vị trí đó, bây giờ bỗng nhiên từ chối không nhận chức, làm cho Tạ An khó ăn khó nói, cũng khiến cho Tư Mã Diệu hoài nghi Tạ An hí lộng quỷ thần, lấy chuyện đó để bảo vệ địa vị Tạ gia trong triều, để Tư Mã Diệu không dám tước đoạt binh quyền của Tạ Huyền, để đối kháng với Nam quận công”.
Hoàn Huyền khen hay, nói: “Đây không phải nhất thạch nhị ô, mà là vô số điểu, cho là ta bỏ chức vị Đại tư mã, Tư Mã Diệu để đối phó với chú cháu Tạ An tất phải ân cần với ta, chẳng những không dám tước binh quyền của ta, mà còn phải phong cho ta một chức vị không kém khác”.
Hầu Lượng Sinh mỉm cười: “Đại tư mã xưa nay luôn kiêm thứ sử Kinh Châu, đảm trách quân sự các châu Lưỡng Hồ, Nam quận công chỉ là thôi cái chức Đại tư mã, quyền vị khác đương nhiên vẫn còn nguyên. Nam quận công chỉ nên trong tấu chương từ chức nói muốn làm thứ sử Kinh Châu, Tư Mã Diệu cũng vô phương làm gì ngài. Hiện tại Bắc Phủ binh khí thế ngút trời, chúng ta tuyệt không nên đụng chạm đến bọn họ. Tranh bá thiên hạ đâu phải ở trên lãnh địa của Hồ triều, chỉ cần thời gian năm ba năm, đến lúc ngài căn cơ ổn định, thiên hạ chẳng phải là đồ trong túi ngài sao?”.
Hoàn Huyền ngửa lên trời cười lớn, nói liền mấy tiếng “Hảo!”, tiếp đó nói: “Chú cháu Tạ An giải quyết xong, Lượng Sinh coi như công đầu! Cứ như vậy mà làm đi. Lượng Sinh hãy vì ta viết bản tham điệp từ quan quan trọng đó đi”.
Hầu Lượng Sinh nói: “Lượng Sinh lập tức tiến hành. Còn có một chuyện, chính là về xứ Biên Hoang, nơi này thực ra là một yếu tố liên quan đến thành bại trong chiến thắng Phì Thủy, nếu có thể khống chế, bất luận trong tương lai bắc phạt hay đối phó với Kiến Khang, đều trọng yếu phi thường”.
Hoàn Huyền nhíu mày nói: “Biên Hoang Tập hiện thời nằm trong phạm vi thế lực Bắc Phủ binh của Tạ Huyền, há để ta nhúng tay vào sao?”.
Hầu Lượng Sinh nói: “Biên Hoang Tập là chốn vô pháp vô thiên, trước đây đã thế, hiện giờ vẫn thế. Trừ phi thiên hạ thống nhất, nếu không vẫn sẽ tiếp tục như thế. Nếu như Nam quận công phái xuất một người trí dũng kiêm toàn, võ công cao cường và thủ đoạn độc ác, dưới hình thức bang hội giang hồ tiến vào bành trướng thế lực ở đó, Biên Hoang Tập sẽ biến thành tuyến đầu biên giới quan trọng của chúng ta”.
Hoàn Huyền song mục lóe lên những tia sáng lạnh lẽo, trầm giọng nói: “Nếu có một người có thể làm được chuyện này, nhất định đó phải là Đồ Phụng Tam. Trong đám cao thủ như mây ở Kinh Châu, ta nghĩ không ra người nào hợp cách hơn y!”.
Nghe đến tên Đồ Phụng Tam, Hầu Lượng Sinh thoáng hiện thần sắc kinh hãi.
Chú thích:
1 - Ô là con quạ, điểu là con chim.
Hồi 46
Phi lai hoanh họa
Coong!
Yến Phi và Cao Ngạn cụng ly, nâng lên dốc cạn không còn một giọt, hai người đã có chút ngà ngà, cả thế gian mau chóng thay đổi. Bảy người bọn họ chia thành hai nhóm trải chiếu ngồi trong một góc nhấm nháp chuốc chén. Cao, Yến hai người nói cười cực hoan hỉ, đám Lương Định Đô thì ngồi im lìm rầu rĩ uống.
Yến Phi thấy Cao Ngạn buông chén, ngu ngơ nhìn mình liền cười: “Nhìn cái gì? Ài! Nếu ta mạo hiểm phản hồi Biên Hoang Tập, thì nhất định là vì Tuyết Giản Hương của Bàng Nghĩa thôi”.
Cao Ngạn nói: “Ta sợ ngươi bụng rỗng cả trăm ngày uống rượu vào rồi chịu không được mửa ra đấy”.
Yến Phi cảm thấy rượu vào hơi oải, giận nói: “Tửu lực của ta vẫn vậy, làm gì đến nỗi mất mặt như thế được”.
Cao Ngạn thấy chàng thần sắc khoan khoái, yên tâm cười nói: “Ngươi có thể biết, nếu tỉnh lại sớm mười ngày, thì khả năng giờ này không có rượu đâu mà dỗ dành con sâu rượu trong bụng, trước đó chỉ có ở thanh lâu mới có rượu đãi khách, mười ngày trước triều đình mới bỏ lệnh cấm rượu, đồng thời tăng thuế gạo, mỗi đầu người năm thạch”.
Yến Phi ngạc nhiên nói: “Thắng trận bỏ cấm chế thì không lạ, vì sao mà lại phải tăng thuế? Mấy chuyện này chẳng phải do Tạ An quản hay sao?”.
Cao Ngạn hạ giọng nói: “Theo ta nghe nói, hiện tại trong triều kẻ nắm quyền là Tư Mã Đạo Tử, tất cả là để tăng gia quốc khố, để cung ứng cho Tư Mã Diệu hưởng lạc xa xỉ, cái lũ chó thật, may mà chúng ta là Hoang nhân, khổ khổ sở sở kiếm ăn đâu phải để chúng nó bóc lột, biến thành kẻ thù”.
Yến Phi thở dài: “Về Biên Hoang Tập thôi! Ngươi không thuộc về nơi này đâu, ở Biên Hoang Tập, ngươi đâu có rảnh rỗi gây chuyện cáu gắt vớ vẩn với người lạ!”. Cao Ngạn lập tức hai mắt lóe sáng, gật đầu nói: “Đúng a! Ở Biên Hoang Tập quen cứ có bạc là có hàng, lão tử muốn gặp ả nào thì gặp ả đó, các ả chỉ sợ ngươi không hứng thú gặp ả. Bất quá chuyện này lại phải nhờ lão ca ngươi giúp đỡ, chưa gặp được Kỷ Thiên Thiên, ta không được toại tâm ý”.
Yến Phi cười khổ: “Ngươi không sợ thất vọng sao? Kỷ Thiên Thiên nếu đối đãi ngươi như kiểu Tạ Chung Tú, hay là như Chân tiểu thư không buồn nhìn ngươi lấy nửa cái, ngươi còn gì là hứng thú?”.
Cao Ngạn cười: “Nếu cô ta là loại nữ nhân như thế, ta đành ôm mối tuyệt vọng lập tức trở về Biên Hoang Tập. Con bà ngươi! Đừng có tìm lời thoái thác, mà không chịu tác thành tâm nguyện cuối cùng của ta đối với Tần Hoài hà”.
Yến Phi bất lực, cười khổ không biết nói gì.
Cao Ngạn hốt nhiên thần sắc ảm đạm, cứ như ngại mở miệng, hạ giọng nói: “Ngươi định thế nào?”.
Lúc này nhà bếp mang lên hai chén canh nhẹ và một đĩa lớn đồ ăn hơi nóng bốc nghi ngút đặt lên ghế, Yến Phi lập tức hưởng ứng, ăn uống rất thật tình.
Cao Ngạn nhíu mày nói: “Ngươi còn chưa trả lời ta”.
Yến Phi bình tĩnh nói: “Ngươi từ khi nào thay đổi không giống như Hoang nhân thế? Hoang nhân đâu có hỏi tới hỏi lui một Hoang nhân khác như thế? Hoang nhân chẳng những không có quá khứ, càng không có tương lai! Đấy mới đúng là quy điều của Biên Hoang Tập. Cái gì bằng hữu, huynh đệ sinh tử chi giao chỉ là lời nói bề ngoài, xưa nay thực chất không mang ý nghĩa gì. Lập tức cút về Biên Hoang Tập, tiếp tục đời sống phát tài phong lưu cho ta!”.
Cao Ngạn hai mắt đỏ lên, nhưng không nói được ra lời.
Yến Phi thấy bộ dạng hắn như thế, biết là hắn đau lòng vì nỗi mình trở thành phế nhân, cũng không cầm được anh hùng khí đoản, ủ rũ nói: “Nguyên lai tiểu tử Cao Ngạn ở Biên Hoang Tập tung hoành khắp chốn lại là kẻ dễ rơi nước mắt như vậy! Bỏ đi! Để ta nghĩ biện pháp tốt cho ngươi. Bất quá sau khi gặp Kỷ Thiên Thiên rồi, ngươi phải lập tức rời khỏi Kiến Khang, ta không muốn ngươi ở đây để người ta coi thường”.
Cao Ngạn rất muốn nói: “Ngươi đi cùng với ta”, bất quá nhớ đến Yến Phi cừu nhân khắp nơi khắp chốn, chỉ cần Chúc lão đại của Hán bang đã đủ khiến hắn khốn khổ rồi, trở lại Biên Hoang Tập, há chẳng phải đưa Yến Phi vào chỗ chết sao, chỉ đơn giản một câu nói, mà không sao nói ra được.
Lại nghĩ Yến Phi có khi từ lần ăn nhờ ở đậu này biến thành một thực khách vô công rồi nghề ở cao môn đại tộc, cảm giác đó khiến hắn không sao chịu nổi.
Yến Phi miễn cưỡng làm mặt vui vẻ, nói: “Sinh tử hữu mệnh, phú quý do thiên, chuyện tương lai muốn lo cũng chẳng được, hôm nay có rượu thì hãy đối tửu ca hát! Cạn chén đi! Ta vì ngươi uống thêm một chung, chúc Biên Hoang Tập sớm khôi phục phồn vinh của ngày xưa! Úi!”.
Cao Ngạn thấy chàng biến sắc mặt nhìn ra cửa, hắn thân là Hoang nhân, cuộc sống ở Biên Hoang Tập cãi lộn chém giết nhau như cơm bữa, liền thò tay vào bọc tìm, phát giác vì muốn tới thanh lâu, mà sớm nay lại từ thanh lâu trực tiếp đến Tạ phủ, cho nên thanh chủy thủ phòng thân xưa nay vẫn giắt bên người lần này lại không đem theo, kinh hãi quay đầu nhìn lại.
Năm người bọn Lương Định Đô đã bật dậy rút bội kiếm ra. Từ cửa lớn hơn mười người hùng hổ tiến vào, người nào cũng khăn đen bịt kín đầu mặt, chỉ để lộ cặp mắt hung dữ, tất cả đều mang mộc côn dài tới sáu thước đen sì, không sợ đao chém, chuyên để khắc chế vũ khí đao kiếm.
Trong quán lúc này tân khách có tới bốn chục người cùng bọn nhà bếp, phục vụ lập tức cuống quít chạy trốn loạn xạ.
Lương Định Đô nhìn về phía sau, còn hơn chục đại hán trang phục đồng dạng, tay cầm vũ khí, ào ào kéo đến, chẹn kín toàn bộ đường tiến thoái.
Bọn Yến Phi không người nào biết đã phát sinh chuyện gì? Giữa ban ngày ban mặt, trên phố đông người qua, bỗng dưng lòi ra hơn ba chục ác hán bịt mặt che đầu mang côn mang gậy, lại càng không biết chúng đến vì bọn Lương Định Đô hay Yến Phi và Cao Ngạn.
Một tên trong đám trỏ tay vào mặt Lương Định Đô quát to: “Oan có đầu, nợ có chủ, kẻ khác vô sự cút hết cho ta!”.
Tân khách cùng kẻ ăn người làm trong quán như được hoàng ân đại xá, chỉ hận cha mẹ sinh ra có một cặp giò, ào ào như ong vỡ tổ chuồn sạch.
Lương Định Đô nói: “Các ngươi là ai? Có biết chúng ta là gia tướng của Tạ An không?”. Đại hán cầm đầu không nói một câu, trường côn vẽ một vòng tròn trên không, tiếp đó bước theo bộ pháp kỳ dị, đầu côn nhắm vào giữa mặt Lương Định Đô thọc tới. Đám hán tử bịt mặt còn lại nhất tề quát to, cùng xông đến như lang như hổ, nhất thời trong quán chập chùng côn ảnh, lực lượng hai bên cực kỳ chênh lệch.
Yến Phi tuy mất võ công, nhãn lực vẫn còn, coi gã đầu lĩnh xuất thủ, lập tức biết không xong, tên này không những nội công thâm hậu, thủ đoạn xảo quyệt, lợi hại nhất là
lâm địch ung dung, có phong độ cao thủ, khí thế hoàn toàn bao trùm Lương Định Đô, bức bách gã không rảnh tay chút nào để giúp đồng bọn cự địch.
“Rẻng!”.
Lương Định Đô không hổ là kiếm thủ xuất sắc nhất trong đám gia tướng thủ hạ Tống Bi Phong, xuất kiếm như gió, đâm trúng đầu côn đối phương, lại dụng kình xảo diệu đánh bật trường côn đối phương sang bên, đang muốn ập vào tiếp cận khống chế đối phương, thi triển một chiêu đánh ngã kẻ địch, đã thấy trường côn từ phía sau kéo ngược trở về, lại đang quét tới, trong lòng hoảng sợ, không còn cách gì đành lướt sang ngang chống đỡ.
Bọn Trương Hiền cũng đã bị hãm vào trùng vây, kẻ địch tuy trong lúc hỗn chiến, nhưng tiến lui có thứ tự, rõ ràng rất có kinh nghiệm quần chiến, trước tiên dùng loạn côn phân tán bốn gã, sau đấy cứ mấy tên tiếp đãi một tên toàn lực vây công.
Còn dư đến bảy tám đại hán đứng xung quanh cũng mau chóng gia nhập vòng chiến, đánh cho bọn Lương Định Đô mồ hôi đầm đìa, không ngớt gặp nguy hiểm, chỉ biết cắn răng chịu đòn.
Bên phía Yến Phi và Cao Ngạn cũng đã nguy cấp, đầu tiên là bọn Lương Định Đô lấy bọn họ làm trung tâm cản trở địch nhân, rồi đến lúc mỗi người tự lo không xong. Năm tên đại hán liền xông đến chỗ bọn họ.
Cao Ngạn kêu to: “Oan có đầu nợ có chủ, hắn không biết võ công, đừng có làm gì hắn!”.
Mấy tên này làm gì thèm để ý đến hắn, năm cây trường côn từ những góc độ vị trí khác nhau bổ xuống hai người đang nép vào góc tường.
“Phanh!” Cao Ngạn tung cước đá vào bụng dưới của một đại hán, tên này cầm côn ngã vật ra sau, đồng thời hắn quán kình vào song thủ, vung tay chặn hai cây trường côn.
Yến Phi trong lòng bốc lên cơn nộ hỏa chưa từng có, phải biết, chàng cùng Cao Ngạn đều phải nuốt hận trong vụ này, Cao Ngạn xưa nay chỉ giỏi công phu chạy nhảy, nếu không vướng có Yến Phi, cho dù ở liệt thế như vậy đi chăng nữa, hắn vẫn dư sức đột vây tẩu thoát, nhưng vì bây giờ muốn ngăn đối phương hại Yến Phi, không tiếc tấm thân huyết nhục bảo hộ Yến Phi,chỉ có thể trong một không gian chật hẹp chiến đấu, lại vì trong tay không vũ khí, phát huy tối đa chỉ được ba bốn thành công phu, như vậy sao có thể may mắn tránh thoát được? Quả nhiên Cao Ngạn tránh được một côn bên tả, liền nhận ngay một đòn vào tay hữu, đau đớn đến mức toàn thân chấn động, gào lên một tiếng, bất kể gì hết lao vào màn côn ảnh của đại hán trước mặt, húc đầu vào ngực gã, đại hán rú lên một tiếng thảm, ngã lăn ra.
Những tên còn lại liền loạn côn đánh tới, còn gì là cao thủ quá chiêu? Chỉ giống như bọn lưu manh ngoài chợ đánh lộn.
Tiếng la đau đớn không ngừng vọng lại từ đám Trương Hiền, Yến Phi đưa mắt nhìn, toàn bộ đám đại hán xung quanh đã gia nhập chiến cuộc, bọn Trương Hiền không thẹn là gia tướng Tạ phủ, ai nấy cố chết chiến đấu, dù bị thương vẫn ngoan cường kháng cự. Xuất sắc nhất vẫn là Lương Định Đô, một mình chống lại bảy tám người tấn công, trong đó có cả đại hán cầm đầu, vậy mà không ngừng có kẻ bị gã đâm trúng. Gã thi hành chiến thuật du đấu, trong khung cảnh chật hẹp trong nhà quán, lăn xuống đất, vọt lên không, kiểu gì cũng chơi, làm giảm rất nhiều áp lực cho bọn Trương Hiền, lại cố ý xông đến chỗ chàng và Cao Ngạn cứu viện, khiến Yến Phi lại thấy có hy vọng, chàng không phải là nghĩ đến sinh tử của bản thân, mà khẩn trương vì an nguy của Cao Ngạn.
“Oạch!”.
Cao Ngạn loạng choạng thoái lui, trước tiên ngã vào lòng Yến Phi, sau đấy người nhũn ra ngã xuống, không biết bị đánh vào chỗ nào.
Yến Phi lập tức từ phía sau ôm chặt lấy hắn, trong tâm trào lên cảm giác cay đắng tuyệt vọng vô cùng, mắt thấy đầy trời côn ảnh đánh tới, không chút do dự liền ôm Cao Ngạn xoay người lại, chìa lưng hứng lấy địch côn.
Trong chớp mắt, không biết đã trúng phải mấy côn, thân thể không có nội công hộ thể yếu nhược đến mức không tin nổi, Yến Phi phát giác mình đã ngã lăn vào chân tường, đè lên trên người Cao Ngạn, đau đớn đến co rúm cả người.
Côn giáng xuống như mưa, chỉ nhè xương sống và sau gáy mà bổ, thủ đoạn thật độc ác, rõ ràng muốn đánh cho chàng chẳng chết thì cũng tê liệt suốt đời.
Trong lúc đau đớn kịch liệt, thần trí chàng lại thấy sáng suốt hơn, ẩn ước nghe tiếng quát của Tống Bi Phong, kỳ quái là những đau đớn nhục thể dần dần đi đâu mất, tựa như không còn liên quan đến mình nữa, nhưng toàn thân thì hết sức uể oải, côn đánh xuống không làm chàng đau đớn nữa, mà giống như được đấm bóp khiến chàng dễ chịu vô cùng, càng lúc càng muốn được ngủ đi một giấc, thần trí dần dần trở nên mơ màng.
Nếu cái chết mà là như thế này thì đúng là chẳng có gì đáng sợ.
o0o
Thác Bạt Khuê một mình thúc ngựa phóng nhanh theo bờ phía đông sông Dương Hà, trận bão tuyết chỉ vừa ngừng hai ngày trước, tuy nhiên gió bắc vẫn lồng lộng mang bụi tuyết rắc khắp nơi khiến người ta không mấy dễ chịu.
Dương Hà là nhánh sông nằm ở thượng du Tang Can Hà, vì rằng tiết trời hơi ấm lên nên nước sông không đóng băng.
Hai bên bờ Dương Hà đã khôi phục lại cảnh bình nguyên sơn dã, rừng rậm nguyên thủy ken dày kín mít, ở chân trời phía đông sơn mạch liên miên, hiện giờ chỉ thấy toàn bộ đều bị băng tuyết phủ kín.
Tuấn mã thở hơi trắng xóa, mang hắn trên lưng ra đi vì vận mệnh của Thác Bạt bộ mà phấn đấu.
Thác Bạt Quật Đốt quả nhiên đúng như dự liệu mang quân đuổi theo, hắn nhờ lợi dụng tuyết lớn vượt trước đối phương một đêm lộ trình, cho nên có thể tìm nơi tránh gió, để người ngựa nghỉ ngơi hồi sức, đối phương thì chắc chắn ở tình trạng người mệt ngựa mỏi.
Hắn rời khỏi bờ sông, rẽ trái phóng ngựa về một vùng đồi núi, xuyên qua thảo nguyên đầy tuyết trắng, phi lên sườn dốc. Các đại tướng, mưu sĩ thủ hạ Trưởng Tôn Tung, Trưởng Tôn Phổ Lạc, Trưởng Tôn Đạo Sinh, Trương Duyện, Hứa Khiêm đều xuất hiện trên đỉnh dốc.
Đằng sau ngọn đồi là một tiểu cốc, chẳng những có thể tránh gió, còn có suối nước, hai ngàn chiến sĩ đang ở đó chờ lệnh.
Trưởng Tôn Đạo giúp hắn giữ cương ngựa, Thác Bạt Khuê nhảy xuống đất, vỗ về ái mã, hướng về mọi người nói: “May mắn người tới là Mộ Dung Lân, không phải là Mộ Dung Bửu”. Chúng tướng đồng thanh hoan hô chúc mừng.
Mộ Dung Bửu là con trưởng của Mộ Dung Thùy, Mộ Dung Lân là con thứ, Mộ Dung Bửu luôn bất mãn cha coi trọng Thác Bạt Khuê, với hắn có quan hệ không tốt đẹp, quan hệ với Mộ Dung Lân thì lại không tồi.
Yếu tố quan trọng trong trận này là có hay không có viện quân của Mộ Dung Thùy, đó chẳng những là đạo kỳ binh nằm ngoài ý liệu của Quật Đốt, mà còn là quân sinh lực, sức chiến đấu tất nhiên hơn hẳn so với lưỡng chi chiến sĩ Thác Bạt tộc kẻ đuổi người chạy.
Thác Bạt Khuê chăm chú nhìn về phía bình nguyên hoang dã phía bắc, biết rằng hơn một vạn bộ đội của Quật Đốt có thể xuất hiện bất cứ lúc nào ở phía đó.
Dưới ánh tà huy chưa tắt hẳn, bình nguyên mênh mông tuyết trắng lấp lánh những tia sáng màu sắc quỷ dị, trong lòng phấn khởi bồng bột nói: “Ta muốn tự tay chém đầu Quật Đốt, mang về thị chúng, sau này nếu kẻ nào dám phản đối ta, sẽ có số phận như vậy”.
Trương Duyện nói: “Trận này chẳng những phải xuất kỳ bất ý, trước đấy còn phải khiến Quật Đốt không có bất kỳ cảm giác uy hiếp nào, nếu lão thấy ta thua chạy hơn trăm dặm, bỗng dưng quay lại phản kích, tất sinh tâm nghi ngờ”.
Thác Bạt Khuê luôn luôn nghe theo mưu kế của hai vị mưu sĩ người Hán Trương Duyện và Hứa Khiêm, Phù Kiên nhờ có một Vương Mãnh mà thống nhất phương bắc, chuyện này hắn luôn khắc sâu trong lòng, mà Hứa Khiêm, Trương Duyện cũng cho rằng hắn Thác Bạt Khuê xứng đáng là minh chủ, cho nên mới hy vọng giống như Nhạc Nghị phò Yên Chiêu vương, Tuân Du phò Tào Tháo, giúp Thác Bạt Khuê hoàn thành đại nghiệp. Trong trạng thái tâm lý như vậy, chúa tôi đúng là như cá gặp nước.
Trương, Hứa hai người chính là đại biểu cho tâm lý người Hán phương bắc, sau hơn trăm năm sống hòa trộn với nhau, sự phân biệt Hồ - Hán trở nên hết sức mơ hồ, lại thêm Hán nhân cực kỳ thất vọng đối với Tấn thất hủ bại, sau thời gian dài sống dưới sự cai trị của chư Hồ phương bắc, dựa vào kẻ mạnh dùng mưu xuất lộ đã trở thành xu thế thời đại, không ai còn cảm giác bất an phản bội truyền thống người Hán nữa.
Thác Bạt Khuê gật đầu đồng ý: “Nói rất đúng! Ta đã vỗ tay làm bằng với Mộ Dung Lân, quyết định đêm nay tập kích Quật Đốt, hai giờ trước khi trời sáng, trước hết do chúng ta phát động, lôi kéo chủ lực của Quật Đốt, sau đó Mộ Dung Lân từ nơi ẩn nấp theo hướng bắc giáp kích Quật Đốt, đánh cho lão trở tay không kịp”.
Trưởng Tôn Tung trầm giọng hỏi: “Mộ Dung Lân mang theo bao nhiêu nhân mã?”. Thác Bạt Khuê nói: “Hắn tuy chỉ mang có ba ngàn người, nhưng đều là tinh nhuệ, nếu để đụng chính diện với Quật Đốt e không đủ, nhưng dùng làm kỳ binh đột tập thì lại quá dư”.
Trưởng Tôn Phổ Lạc nhíu mày nói: “Hành quân trên đất tuyết khó ẩn giấu hành tung, mà với tính cách Quật Đốt, tất từng giờ từng phút đề phòng ta quay lại đột kích, một khi chúng ta chịu không nổi sự phản kích của lão, không thể phối hợp với thế công của Mộ Dung Lân, không chừng trận này thất bại”.
Thác Bạt Khuê thoáng hiện nét cười, ung dung như không nói: “Quân ta mấy ngày nay trên đường đi về tốc độ, nhịp điệu đều cố tình khống chế khiến cho Quật Đốt nhiều lúc cảm giác chỉ còn một chút là đuổi kịp chúng ta, cho nên không dám lơi lỏng. Chỉ cần vào lúc mặt trời lặn ngày hôm nay, bộ đội tiên phong của Quật Đốt xuất hiện trong tầm nhìn của ta, thắng lợi của trận này ắt thuộc về chúng ta, không có bất kỳ khả năng nào khác nữa”.
Nếu đích thân Quật Đốt có mặt nơi đây, sẽ là lần đầu tiên kể từ khi rút chạy địch nhân ở gần bọn lão nhất.
Trưởng Tôn Đạo Sinh là người nhỏ nhất trong ba huynh đệ, anh tuấn linh hoạt, bất luận trí kế hay võ công đều không dưới hai vị huynh trưởng, cất tiếng hỏi: “Chúng ta phục kích địch nhân tại đây sao?”.
Thác Bạt Khuê mỉm cười: “Chính là tại đây!”.
Mọi người đều ngạc nhiên, địa hình nơi này lợi thủ không lợi công, mà không biết rồi Quật Đốt sẽ dựng trại ở chỗ nào, với sự lão luyện của Quật Đốt, tất sẽ phái người đi tra xét, nếu phát hiện sự có mặt của bọn họ, lập tức sẽ lập trận quay lưng ra sông, bọn họ sẽ phải lưỡng đầu thọ địch rất bất lợi.
Trương Duyện là người đầu tiên tỉnh ngộ nói: “Thiếu chủ là muốn địch nhân chiếm cứ chỗ này”.
Thác Bạt Khuê vui vẻ nói: “Chúng ta giả vờ là do bọn họ đến quá mau, cuống cuồng chạy trốn, lại bỏ lại lương thảo đồ dùng khiến cho đối phương sinh lòng khinh địch. Lúc đó trời đã tối, Quật Đốt đã suốt cả ngày truy đuổi, đương nhiên sẽ dựng trại bên trong tiểu cốc nghỉ ngơi dưỡng sức người ngựa.
Mọi người bàng hoàng.
Tiểu sơn cốc có thể chứa được ba ngàn người, số người còn lại của Quật Đốt đành phải dựng lều trại trên đỉnh đồi hoặc tại cốc khẩu phía nam, để binh tướng chỉnh trang doanh trại, uống đủ nước ăn no bụng, chiến sĩ đều vào lều nghỉ ngơi, đợi đến lúc vừa mới thiếp ngủ, bọn họ liền toàn diện triển khai thâu tập, trước hết đột kích doanh trại ngoài cốc khẩu, một khi đã kinh động toàn quân Quật Đốt, ra sức chống cự, tiểu cốc này vì điều động quân đội mà trở thành tắc nghẽn, ngăn trở bộ đội từ đỉnh núi phía bắc sang ứng cứu cho cốc khẩu phía nam, lúc đó Mộ Dung Lân mới từ nơi giấu quân phía bắc với khí thế như sấm sét đập nát cánh quân phía bắc của Quật Đốt. Vì bị tiểu cốc ngăn cách, Quật Đốt đầu đuôi không thể tương cứu, lại thêm trong đêm đen, địch ám ta minh, dù cho binh lực nhiều hơn liên quân giáp kích, cũng không thể phát huy sức lực vốn có. Tướng mệt binh mỏi chính là nhược điểm trí mệnh của lão.
Chúng tướng lập tức sĩ khí tăng vọt.
Trưởng Tôn Tung trỏ tay nói: “Quật Đốt đến rồi!”.
Thác Bạt Khuê hết sức mừng rỡ, đưa mắt nhìn ra xa, ở cánh rừng thưa xa xa, hơn mười người phóng ra, phi nhanh về phía bọn họ.
Thác Bạt Khuê cười lớn: “Trời giúp ta rồi!”.
Liền quát lớn: “Hạ lệnh triệt thoái!”.
Tiếng tù và hiệu vang lên chấn động cả một vùng đồi hoang, chiến sĩ đã chuẩn bị chờ lệnh rút lui theo thứ tự triệt thoái theo cốc khẩu phía bắc, Thác Bạt Khuê trong lòng tràn ngập cảm giác kích thích, trận này cứu cánh sẽ là khởi điểm hay là chung kết của đại nghiệp tranh bá của hắn, đêm nay có thể biết rõ.
Chú thích:
23Tai bay vạ gió.