View Single Post
  #17  
Old 12-21-2012, 08:04 AM
Helen's Avatar
Helen Helen is offline
Super Moderator
 
Tham gia ngày: Jan 2007
Bài gởi: 3,082
neww Biên hoang truyền thuyết - Hồi 33, 34

Biên hoang truyền thuyết


Hồi 33

Phì Thủy chi chiến


Thùng! Thùng! Thùng!
Trống trận từng hồi từng hồi vang dội, chậm rãi mà trầm ổn hữu lực. Trước khi trời sáng đội ngũ đã tề chỉnh chờ xuất phát, trời vừa sáng lệnh truyền Bắc Phủ đại quân kéo ra khỏi Hạp Thạch thành, đội hình nghiêm cẩn tiến đến bãi đất bằng bên bờ đông Phì Thủy bố trí thành trận thế.
Bắc Phủ binh nhân số bảy vạn năm ngàn khí thế hừng hực, gồm tám ngàn kỵ binh, còn lại là bộ binh, xếp thành thế trận hình chữ nhật kéo dài theo bờ sông. Tám ngàn đột kỵ chia thành ba tổ, hai tổ hai bên tả hữu gồm hai ngàn người, bốn ngàn tinh kỵ chủ lực bố trí ở giữa, ngoài ra bộ binh chia thành hai đội, mỗi đội chừng ba vạn sắp xếp ở giữa các đội kỵ binh, mỗi đội lại chia thành ba tổ tiền, trung, hậu. Tiền tổ dùng lính tiễn thủ mang khiên làm chủ, hai tổ còn lại trang bị khí giới đao kiếm chuyên để cận chiến, phối hợp với khí giới dài, có thể chiến đấu ở cả tầm xa và gần. Bất luận kỵ sĩ hay đao thủ đều mang giáp nhẹ thuận tiện cho việc vượt sông huyết chiến.
Mười hai lá đại kỳ bố trí dọc theo bờ sông, theo gió tung bay, uy phong lẫm liệt, các binh sĩ Bắc Phủ binh hiểu rõ trong số sáu lá đại kỳ thêu chữ “Bắc Phủ”, lá đại kỳ màu hồng bạch chính thị tiêu kỳ mệnh lệnh mau chóng vượt sông mang tên “Khoái tiệp phương thức”.
Bên bờ đối diện Hồ quân âm thanh đây đó vang lên, Đê Tần đại quân đã bắt đầu điều động, từ Thọ Dương và doanh trại bốn phía kéo ra, tập kết tại cánh đồng hoang rộng lớn bên tây ngạn Phì Thủy.
Phù Kiên đã xuất tận nhân lực, kỵ binh mười tám vạn, bộ binh sáu vạn, tổng binh lực gấp ba lần Bắc Phủ binh, thanh thế hùng hổ, cung cách oai phong, tuyến đầu sử dụng ba vạn kỵ binh bố trận cách Phì Thủy trăm bộ, hai bên đều có năm ngàn kỵ binh hỗ trợ, thuẫn bài che kín, thêm vào cung cứng tên mạnh, kích dài câu khỏe, thực lực đủ để đập nát bất cứ hành động nào của Bắc Phủ binh toàn lực vượt sông qua đây.
Vì quân số đông, ngoại trừ bộ binh bố trí ngang phía trước theo thế trận phòng ngự, mười sáu đội kỵ binh phía sau sắp thành trận thức hình vành trăng, mỗi đội chừng vạn người, hình thành đội hình ken dày trong một hình bán nguyệt hướng cung tròn sang phía đối ngạn,
thu hẹp tuyến phòng ngự thành một thể chặt chẽ, khi phản kích có thể bộc phát lực lượng hết sức quyết liệt.
Còn lại ba vạn bộ binh lưu lại giữ Thọ Dương, đương nhiên tùy thời có thể y lệnh xuất thành trợ chiến.
Lưu Dụ theo Tạ Huyền cùng Tạ Thạch, Tạ Diễm, từ sơn thành phóng ngựa xuống, hai bên vẫn còn đương bài binh bố trận.
Lưu Lao Chi và Hà Khiêm đã sớm đưa các tướng lãnh ra tuyến đầu chỉ huy đại quân tiến thoái.
Lưu Dụ kềm ngựa đứng lẫn trong đám thân binh của Tạ Huyền, tâm tình hưng phấn, thực khó mà so sánh. Sống đến ngày hôm nay, gã lại lần đầu tiên tham dự một trận chiến đại quy mô như thế này, trong lòng không chút lo sợ hay bất an, chẳng phải vì gã không sợ chết, mà căn bản không nghĩ đến trường chính diện quyết chiến này có thể thất bại.
Trong số tướng sĩ Bắc Phủ binh, trừ Tạ Huyền ra, sợ chỉ có duy nhất gã hiểu rõ để đạt được cục diện như trước mắt này thực không dễ chút nào, mà nhờ Tạ Huyền tận tâm tận lực khéo thi hành kỳ mưu diệu kế, một tay ra sức mới nên.
Mắt thấy phía trước Tạ Huyền như hạc giữa đàn gà, một thân trang phục bạch y nho sĩ không mang giáp trụ, gã có cảm giác tình cảm dâng trào, nghẹn ngào muốn khóc.
Ngoảnh nhìn về phía nam, duy chỉ có đôi vai rộng rãi của Tạ Huyền, mới đủ sức gánh vác trách nhiệm nặng nề quyết định an nguy tồn vong của đại Tấn, cũng chỉ có ông mới có thể khiến tướng sĩ đồng lòng, khẳng khái hy sinh.
Lưu Dụ tin tưởng hiện thời trên chiến trường, mỗi cá nhân Bắc Phủ binh đều mang niềm tin như gã rằng Tạ Huyền sẽ lãnh đạo bọn họ đi trên con đường thênh thang chiến thắng. Tạ Huyền chính là hình ảnh hóa thân của Tạ An trên chiến trường, cho dù Phù Kiên dốc tận nhân lực tới đây, cũng không cách gì đánh bại Tạ Huyền.
Từ lúc đầu, Tạ Huyền đã phát hiện Phù Kiên điều quân hết sức thất cách, tiền quân hậu quân cách nhau ngàn dặm, tinh kỳ xa tít tắp, chiến tuyến kéo ra quá dài, mà lại có ý khinh địch, cho rằng có thể như thu phong tảo lạc diệp dễ dàng đánh bại nam Tấn, đâu biết đã để cho Tạ Huyền nắm thế hoàn toàn chủ động, trăm vạn đại quân chỉ có chừng gấp ba quân số Bắc Phủ binh cùng nhau tranh phong.
Trong thời khắc này, Lưu Dụ cảm giác hoàn toàn nắm chắc bí quyết trở nên một vị thống soái của Tạ Huyền, có thể thực hiện được hay không là một chuyện khác, ít ra cũng nắm vững pháp môn bên trong.
Bờ bên kia một đám tinh kỳ đang từ từ di động trong đại dương mênh mông kỵ binh, rõ ràng là Phù Kiên cùng các thân binh thân tướng của y, đang tiến lên phía trước, coi rõ cục thế bên sông.
Tạ Huyền cuối cùng đã kềm ngựa bên bờ đông, Bắc Phủ binh ở trận địa men theo bờ sông lập tức bùng lên những tiếng reo hò hoan hô, người người đều hô to Tạ Huyền đại soái, sĩ khí lập tức dâng lên đến cực điểm. Đối với họ mà nói, Tạ Huyền đã không chỉ là một vị lãnh tụ, mà còn là một vị thiên thần nhất định sẽ mang thắng lợi đến cho họ.
Tạ Huyền vẫn thần thái tự nhiên, ung dung đại độ, hốt nhiên vung quyền kích thẳng lên trời, mỗi lúc ông bất ngờ có động tác như vậy, lại càng làm dấy lên những tiếng reo hò kích động hơn, người người như say như dại, quên đi bao hung hiểm trên chiến trường.
Đứng giữa Tạ Huyền và Tạ Diễm là chủ soái Tạ Thạch thần sắc không hề khó chịu, ngược lại thấy điệt nhi được hoan nghênh như vậy trong lòng ông rất hoan hỉ.
Lưu Dụ bất giác càng bội phục Tạ An, ông không lo bị hiềm nghi chỉ sử dụng thân tộc, chính vì muốn để cho Tạ Huyền phóng tay mà làm, cho ông cơ hội tự do và toàn quyền chỉ huy. Nếu đổi Tạ Thạch và Tạ Diễm là người khác, Tạ Huyền cũng không thể không cố kỵ, đến mức vướng víu chân tay, không thể phát huy tinh thần và sức chiến đấu của Bắc Phủ binh đến tận cùng.
Kỵ đội trung tâm phân khai sang hai bên, nhường cho đội ngũ của Tạ Huyền xếp hàng ba như một con trường xà tự nhập vào đội hình kỵ binh, soái kỳ giương cao, hướng về Phì Thủy tiến tới, hai bên kỵ binh bạt đao hò hét vang trời, Lưu Dụ tuy biết đối tượng được hoan nghênh là Tạ Huyền ở đằng trước, cũng cảm giác được chung niềm vinh dự, toàn thân nhiệt huyết trào dâng.
Đối với mỗi chiến sĩ Bắc Phủ đang có mặt bên bờ sông mà nói, trận này không nghi ngờ gì nữa, là để bảo vệ gia đình giữ yên tổ quốc, ra trận vì chánh nghĩa, mục tiêu chính đáng, từ đó sinh ra quyết tâm và dũng khí chỉ tiến không lui.
Ngược lại ở bên đối ngạn, tuy binh lực hơn hẳn, nhưng sức lao lực kiệt, đặc biệt ngoài Đê tộc ra, chiến sĩ các tộc khác căn bổn không biết bản thân vì sao lại có mặt ở đây? Vì cái gì mà chiến đấu?
Mặt sông Phì Thủy ba mươi trượng, dưới ánh sáng vầng thái dương mới mọc chiếu xuống lấp lánh, cách ly song phương đối địch rõ ràng, nước sông êm đềm trôi, đối với trận đại chiến sắp nổ ra điềm nhiên không cần biết.
Bỗng nhiên một hồi trống trận dồn dập và mãnh liệt vang lên thấu tận trời xanh, nguyên lai Tạ Huyền đã cùng chúng tướng đi tới bên sông, xa xa quan sát địch trận.
Phù Kiên ngồi thẳng trên lưng ngựa, xung quanh là Phù Dung, Khất Phục Quốc Nhân, Lữ Quang cùng chư tướng đi tới phía sau trận địa bộ binh trang bị cung tiễn và khiên, hướng về đối ngạn nhìn sang, mục quang dừng lại ở tấm bạch y trắng như tuyết trên thân Tạ Huyền, không giống bất kỳ ai khác, song mục sát cơ đại thịnh, trầm giọng nói: “Kẻ mặc bạch y kia phải chăng là tiểu tử không biết trời cao đất dày đó?”.
Phù Dung gật đầu: “Chính là Tạ Huyền”.
Một cơn gió mạnh tràn qua, phía sau Phù Kiên mấy lá đại kỳ bay phần phật.
Trong tâm Phù Kiên nổi lên hào tình vạn trượng, quên luôn chuyện quân Lương Thành bại trận, cười lạnh: “Ta lại cứ nghĩ y ba đầu sáu tay gì, té ra chỉ là một tiểu tử miệng còn hôi sữa ra đến chiến trường mà vẫn làm bộ ăn mặc theo kiểu phong lưu danh sĩ, với Bắc Phủ binh bé mọn trong tay dám to tiếng không ngượng mồm, ta phải khiến y phải táng thây Phì Thủy mới nghe”.
Phù Dung nhìn sang đối ngạn thấy Tạ Huyền uy phong như thiên tướng, Bắc Phủ binh sĩ khí như triều dâng, rất muốn đề tỉnh Phù Kiên không nên khinh địch, bất quá lại không phải lúc thích hợp, đành uyển chuyển nói: “Tạ Huyền thực chất không đủ thực lực vượt sông tiến công, ta chỉ cần lấy tĩnh chế động, trận này chắc chắn sẽ thắng”.
Đám Khất Phục Quốc Nhân nghe lời biết có ngụ ý, nhao nhao gật đầu đồng ý, địch càng không thể công ta, ta càng không nên công địch.
Lữ Quang nhớ đến độ sâu của lòng sông, cười gằn: “Nếu Tạ Huyền dám xua quân độ hà, chúng ta sẽ chờ chúng vượt sông đến giữa chừng liền tiến công để chúng trở tay không kịp, rồi tiếp tục đuổi theo bọn chúng công sang đối ngạn, đánh chúng tan tành không còn mảnh giáp”.
Khất Phục Quốc Nhân nhíu mày: “Tạ Huyền nếu lại ngu xuẩn đến thế, chẳng ai có thể giúp y qua được kiếp nạn này”.
Chúng tướng đồng thanh cười lớn.
Ở bờ bên kia, Tạ Huyền đang hết sức lưu ý đến thần thái biểu hiện của Phù Kiên cùng chư tướng, thấy vậy hướng về Tạ Thạch và Tạ Diễm bật cười nói: “Phù Kiên trúng kế rồi! Y cho rằng có thể chiếm tiện nghi, không chủ động tiến công, đợi quân ta vượt sông giữa chừng mới phát động công kích, thật hết sức đáng cười”.
Tạ Thạch nhíu mày nói: “Phù Kiên nếu cứ án binh bất động, dù nhân mã bên ta có thể mau lẹ vượt sông, nhưng cũng chẳng thể nào phá nổi thế trận kiên cố của chúng, một khi đối phương dùng binh lực áp đảo bức bách quân ta lui về bờ nam, binh bại như núi lở, chúng ta không chừng sẽ thất bại trận này”.
Tạ Diễm ở bên cùng các tướng phía sau Lưu Dụ đều đồng ý, riêng Lưu Dụ biết Tạ Huyền tất có đối sách khác, chắc chắn sẽ không vượt sông đi tìm chết.
Tạ Huyền ung dung đáp: “Vậy phải coi Phù Kiên có hận ta đến mức lý trí bị lú lẫn hay không? Có thiết tha cầu thắng hay không?”.
Hốt nhiên hét to: “Gõ ba hồi trống!”.
Các tay trống bên bờ sông nghe lệnh, lập tức tiếng trống vang lên như sấm sét, sau ba hồi lại mau chóng trở lại yên tĩnh.
Hai bên bờ lặng lẽ như tờ, chỉ có tiếng nước chảy cùng tiếng ngựa hí đây đó.
Lưu Dụ động tâm, đoán Tạ Huyền có dụng ý khích động Phù Kiên ham lập đại công, hành động độc đoán, không cam chịu nhục, lại chủ quan khinh địch, đến cả nhân vật quan trọng như Chu Tự đang chỉ huy bộ quân ở tuyến đầu, lúc này cũng không biết trong bụng Tạ Huyền đang tính toán điều gì.
Tiếng trống vừa dứt, Tạ Huyền đã hét lớn: “Phù Kiên ngươi có dám cùng ta quyết một trận tử chiến hay không?”.
Phối hợp với âm hưởng trống trận vừa tắt, lời này của ông chẳng những uy phong bát diện, mà còn tràn ngập bá khí.
Quả nhiên bên này Phù Kiên đột nhiên nổi lôi đình, nhưng không giận mà cười nói: “Trẻ con ở nam phương, không thẹn quá lớn lối sao? nếu Đại Tần Thiên Vương ta thiếu đảm lượng, ngày hôm nay ắt không để ngươi ở đó đối trận, nếu tri cơ thì hãy lập tức hạ gối đầu hàng, ta chẳng những để ngươi toàn mạng, mà còn cho ngươi một chức quan, bằng không hối sẽ không kịp đâu”.
Bên Bắc Phủ quân lập tức phát ra một trận cười vang dội, chế nhạo Phù Kiên đạo quân tiên phong đã thảm bại mà vẫn còn dám nói những lời như vậy, chính Phù Kiên mới là kẻ to mồm không biết ngượng.
Tạ Huyền lắc đầu bật cười, hét to: “Chớ nói lời thừa, Phù Kiên ngươi vẫn chưa đáp ứng câu hỏi vừa rồi của ta, đó là ngươi có dám cùng ta quyết một trận tử chiến hay không?”. Phù Kiên giận đến mức hung quang như lửa tóe trong mắt, Tạ Huyền trước mặt tất cả mọi người trước một câu, sau một câu Phù Kiên, không hề tôn trọng y, giọng điệu không coi y ra gì, chuyện này người nhẫn nhục đến mấy cũng không thể chịu nổi, cười giận dữ nói: “Ai đang nói lời thừa? Có gan thì phóng ngựa qua đây, ta muốn ngươi thây phơi Phì Thủy”.
Tạ Huyền đã đạt được mục tiêu, nói: “Các ngươi hiện tại lập trận sát bờ nước, hẳn là muốn dùng kế lần khần, nếu có ý quyết tử một trận, sao không cho toàn quân lui ra trăm bộ, chờ quân ta qua sông quyết một trận thắng phụ. nếu không có gan, tốt nhất là ngươi hãy quay về Trường An, về đó tha hồ mà chơi bời!”.
Bắc Phủ binh nghe ông nói chuyện hứng thú, lần thứ hai cười rống lên, tiếng cười truyền vào tai Phù Kiên, biến thành nỗi sỉ nhục, Phù Kiên quay nhìn tả hữu, người nào người nấy mặt đầy sắc giận.
Thanh âm Tạ Huyền lại vọng đến: “Nếu chịu lui quân như thế, lệnh cho tướng sĩ xong xuôi, kẻ hèn này sẽ cùng ngài ôm cương mà xem xét, chẳng vui lắm sao?”.
Câu cuối cùng tràn đầy thi ý, ngữ điệu khách khí, mang bổn sắc thế gia đại tộc, không biết sao lại như đâm vào tai Phù Kiên và chúng tướng.
Phù Kiên dán mắt vào Tạ Huyền, trầm giọng nói: “Tên này chả lẽ không biết sống chết là gì?”.
Khất Phục Quốc Nhân ngạc nhiên: “Đúng lý thì Tạ Huyền không thể là cái loại hữu dũng vô mưu như thế mới phải”.
Phù Dung cũng nói: “Bên trong có thể có điều trá ngụy, xin Thiên vương thận trọng”.
Thư Cừ Mông Tốn hừ lạnh: “Có Phì Thủy cách trở, y phải cho toàn quân lội sông mà qua, ít nhất cũng cần nửa canh giờ, khi đó không cần chúng ta động thủ, chỉ cần nước ngấm vào người cùng với gió tây bắc lạnh thấu xương, chưa đến lượt chúng ta ra tay khó nhọc thì chúng đã bị lạnh cóng gần chết rồi”.
Ngốc Phát Ô Cô cũng phát biểu: “Liệu có thể nào chúng ta lui lại nhường khoảng trống, Tạ Huyền vẫn án binh bất động, rồi mới cười nhạo chúng ta không?”.
Lữ Quang gầm gừ: “Khi đó kẻ mất mặt là bọn chúng, vi thần cho rằng Tạ Huyền thực sự có ý muốn vượt sông quyết một trận tử chiến, muốn nhân lúc này quân ta hành quân đường dài, nguyên khí chưa phục hồi, lại sợ quân ta tiếp tục kéo tới đông đảo, mới nghĩ hiện tại là cơ hội tốt nhất để tiến công”.
Phù Kiên thở sâu một hơi, ngầm hạ quyết tâm, nói: “Tạ Huyền có thể múa may gì trong tay trẫm được, hiện tại song phương đối địch, mọi thứ rõ ràng, đang khi chúng vượt sông nửa chừng, ta tung quân toàn lực tiến công, trước tiên cho tiễn thủ tới bên bờ phóng
tên từ xa, chờ đến khi chúng thoái lui, mới cho thiết kỵ đuổi theo truy sát, trận này chắc sẽ toàn thắng”.
Khất Phục Quốc Nhân nói: “Lữ Quang đại tướng quân nói rất có lý, chỉ cần chúng ta tránh giao phong, khiến cho Tạ Huyền mất đi cơ hội đánh canh bạc cuối cùng, thắng lợi tối hậu tất sẽ thuộc về chúng ta”.
Phù Dung cũng nói: “Lời Quốc Nhân đáng để Thiên Vương xem xét, đại quân thực nên tiến không nên thoái”.
Phù Kiên thở ra một hơi dài, ngắt lời: “Nếu lần này bên ta không dám ứng chiến, kẻ dưới sẽ cho rằng trẫm sợ y, nếu để y thoái lui giữ Hạp Thạch, tiến công cũng không dễ, nếu theo kế hoạch của trẫm, chờ đến lúc địch vượt sông mới công kích mãnh liệt, giang sơn nam Tấn có khác gì đổ trong túi trẫm?”.
Nói xong hét to: “Trẻ con nam phương nghe đây, chúng ta sẽ lui về trăm bộ, các ngươi hãy lập tức qua sông, quyết một trận tử chiến, chớ có nói mà không làm”.
Liền đó hạ lệnh triệt thoái trăm bộ.
Bên đối ngạn Tạ Huyền thở nhẹ một hơi, quay sang tả hữu nói: “Phù Kiên quả không phụ lòng mong đợi của ta”.
Phía sau Lưu Dụ nhìn thấy lính truyền tin của địch phóng ngựa thông tri cho các đầu mục tướng sĩ, hưng phấn đến mức sởn gai ốc khắp người. Gã rốt cuộc cũng nắm được mưu lược mang lại thắng lợi của Tạ Huyền.
Thắng cũng do Phì Thủy, bại cũng do Phì Thủy.
Tạ Huyền dám chơi con bài cuối cùng, dốc toàn lực để đánh một trận là thành công, là vì đã bí mật bố trí để khoái kỵ có khả năng mau lẹ phóng qua sông; Phù Kiên sở dĩ chịu lui quân một trăm bước vì muốn thừa cơ bên mình không thể mau chóng vượt sông, hồi quân phản kích. Với quân đội của Phù Kiên nhân số lên đến hơn hai mươi vạn, tựa như một con quái vật cồng kềnh, cái đầu rất khó chỉ huy tứ chi, không cần nói đến chuyện lui lại trăm bộ, mà chỉ cần thoái lui một bước cũng đụng chạm đến hai chục vạn con người, có muốn yên một chút cũng không được, loạn cục thế nào có thể dễ dàng tưởng tượng được.
Hơn nữa, trận địa bố trí theo hình vành trăng người ngựa xen kẽ dày đặc, lúc phòng thủ không một kẽ hở, khi tiến công cũng rất có thứ tự, nhưng nếu quay đầu lùi lại, chẳng những phối hợp khó khăn, mà còn làm hỏng thế trận chu mật trước đó.
Phía Phù Kiên đương nhiên không nghĩ đến chuyện đó, cho rằng Tạ Huyền đợi đến khi bọn họ bố trí ngon lành trận thế mới, mới vượt sông quyết chiến.
Hiện tại thế chủ động tuyệt đối đã rơi vào tay Tạ Huyền, Lưu Dụ tin rằng tại thời điểm phù hợp nhất sẽ hạ mệnh lệnh qua sông tiến công.
Tạ Huyền chăm chú nhìn sang địch trận, hiệu kỳ của quân Hồ giương cao, đội kỵ binh ở phía sau bắt đầu triệt thoái, vì quân số rất đông, nên ba cánh quân xa nhất cách tuyến đầu tới nửa dặm, vượt quá Thọ Dương thành bắc. Vì khoảng cách quá lớn nên nghe không rõ lời đối đáp của Phù Kiên, không tiếp được mệnh lệnh triệt thoái trăm bộ, chắc chắn từ trên xuống dưới chẳng hiểu đầu cua tai nheo thế nào, trong dạ nghi nghi hoặc hoặc.
Phù Dung lúc này đã rời khỏi chỗ Phù Kiên, dẫn hơn chục thân binh phi lên tuyến đầu tiên, to tiếng ra lệnh cho ba vạn cung tiễn thủ do Chu Tự chỉ huy cố thủ tại chỗ, cho đến khi nào chính hắn ra lệnh mới được lui về.
Chu Tự thần sắc nghiêm trang kính cẩn, im lặng không nói gì, có thể thấy tâm tình hắn đang khẩn trương thế nào.
Tạ Huyền nhớ lại ngày nọ đã thua một ván cờ với Tạ An như thế nào, gắng giữ bình tĩnh, khẽ cười: “Phù Dung quả nhiên là người biết dùng binh, biết rõ cần phải nắm chặt tuyến đầu tối quan trọng”.
Lúc này cả đại hậu phương địch quân đều quay đầu ngựa triệt thoái về phía sau, trận thế từ ngoài vào trong vốn vững như thành đồng đã tan như mây khói.
Tạ Thạch đã khẩn trương đến mức không chịu đựng nổi, hít vội mấy hơi thở nói: “Lúc nào tiến công?”.
Tạ Huyền chợt nói: “Khi soái kỳ của Phù Kiên chuyển động, là thời khắc chúng ta đưa quân vượt sông, khắc địch chế thắng”.
Tạ Diễm theo dõi Phù Dung từ mé bên tiền tuyến phi ngựa quay lại, cùng các thân binh kềm ngựa trên tuyến đầu, chỉ cách chỗ Chu Tự hơn mười bước, cặp mắt hổ đăm đăm nhìn về phía bên mình, lo lắng nói: “Nếu quân cung thủ của địch vẫn cố thủ ở tuyến đầu, quân ta sợ không có cách nào đột phá phòng tuyến của bọn chúng, cho dù vượt sông thành công, cũng phải ngậm hờn với khoảng cách trăm bộ giữa địch trận và dòng Phì Thủy”.
Tạ Huyền nhạt giọng nói: “Bên địch trước khi sắp xếp được toàn bộ thế trận, lòng quân đã loạn, quân ta ngựa khỏe, một trăm bộ chớp mắt là vọt qua, quân cung thủ đã mất hậu phương chi viện, một quệt là tan, bại thế một khi đã thành, đối phương muốn lật ngược thế cờ cũng không có cách nào. Phù Dung tuy suy nghĩ chu đáo, muốn chờ đến khi kỵ binh ổn định thế trận, mới triệt thoái bộ binh ở tiền tuyến, đáng tiếc lại không điều Chu Tự đi, sai lầm này sẽ khiến cho Phù Kiên đánh mất giang san của y”.
Tạ Thạch nói: “Phù Kiên di chuyển rồi”.
Tạ Huyền cũng nhìn thấy hoàng kỳ của Phù Kiên di động, hai bên hai toán kỵ binh hộ vệ quay đầu thoái lui.
Toàn thể tiền tuyến đã bắt đầu di động, kể cả kỵ binh ở hai cánh, vì ngựa không thể đi giật lùi, tất nhiên phải quay đầu ngựa, vì thế mà biến thành một cánh đồng đầy cẳng chân ngựa, không ngừng lan mãi xa, cảnh tượng thật là kỳ lạ. Cảnh tượng như thế dám nói tự xưa đến nay trong các trận chiến chưa bao giờ có.
Ba vạn lính cung thủ cùng Phù Dung và Chu Tự vẫn ở lại tuyến đầu, đợi đến khi bố trí đâu ra đấy mới lui về sau. Trong hoàn cảnh này, bộ binh đương nhiên linh hoạt hơn kỵ binh. Tạ Huyền hét lớn: “Khua trống!”.
Lính cầm cờ nghe lệnh, lập tức phất cờ hiệu, mười hai lực sĩ cầm dùi trống đồng thời quật xuống mười hai cỗ đại cổ đặt ở tiền phương, theo cùng một tiết tấu, tiếng trống lập tức phát ra như sấm động chín từng trời, truyền khắp mọi góc mọi nơi trên chiến trường.
Địch quân bao gồm cả Phù Kiên đại bộ phận bị tiếng trống làm cho giật bắn mình, xôn xao quay đầu nhìn lại, hàng trăm chiến mã kinh hãi nhảy dựng lên, tình hình bắt đầu hỗn loạn.
“Rẻng!”.
Tạ Huyền bạt xuất Cửu Thiều Định Âm kiếm danh chấn thiên hạ, chỉ thấy dọc theo một bên thân kiếm có chín lỗ nhỏ, dưới ánh dương quang chiếu sáng lấp lánh, kêu to: “Các binh sĩ! Theo ta giết địch giành chiến thắng”.
Một mình một ngựa xông lên trước tiên, lao xuống dòng Phì Thủy, đạp lên con đường ngầm lấp đầy những bao đá vụn, hướng đối ngạn phi nhanh tới.
Tạ Thạch, Tạ Diễm, Lưu Dụ cùng chúng tướng đồng thanh hô lớn, theo sau lao xuống sông.
Lưu Lao Chi và Hà Khiêm dẫn tả hữu hai đạo kỵ binh cũng không chậm trễ vọt xuống sông giống như hai con rồng giận dữ rẽ nước vọt đi.
Bên địch những kỵ binh rút lui sau cùng nhất thời mất phương hướng, không biết nên quay đầu nghênh chiến hay tiếp tục thoái lui, Phù Kiên cũng đột ngột đánh mất quyền chỉ huy, vì thính giác của quân Hồ đều bị tiếng trống trận che lấp.
Trong phút chốc tiếng vó ngựa vang lên điếc tai, nước sông bắn lên tung tóe, Phù Dung tuy to tiếng hô tiễn thủ giương cung xạ tiễn nghênh địch, nhưng những tiếng kêu gào của hắn chỉ biến thành những tiếng kêu yếu ớt trong tiếng trống ầm ầm.
Đại Tần binh lòng quân rối loạn.


Hồi 34

Phì Thủy lưu tuyệt


Yến Phi đi trên đường không nhanh cũng không chậm, không phải chàng không muốn tranh thủ thời gian, mà vì sợ nội thương phát tác, đêm qua đã ba lần có triệu chứng không hay, bắt buộc chàng phải dừng lại vận khí hành
huyết. Tà công của Nhậm Dao đích thực âm hiểm lợi hại, nếu không phải Nhật Nguyệt Lệ Thiên đại pháp của chàng đã sơ nhập cảnh giới Tiên Thiên chân khí, hòa hợp với lẽ tự nhiên, sợ rằng đã giống như Vinh Trí, tính mệnh ô hô ai tai rồi. Do đây có thể đoán được đích xác mục tiêu giết người của Nhậm Dao là Lưu Dụ, nhân vì hắn cho rằng mình cũng giống như Vinh Trí chẳng sống được bao lâu nữa.
Người biết bí mật của Thiên Địa bội ngoại trừ Quỷ diện nhân chỉ còn Lưu Dụ, xử lý chàng coi như Nhậm Dao phí sức một lần rồi yên chí mãi mãi, không còn lo chàng mang bí mật đã từng có Thiên Địa bội trong tay tiết lộ cho cha con An Thế Thanh. Còn về Quỷ diện nhân chỉ cần không phải là An Thế Thanh là được, không có Thiên Địa bội, có vật trong tay cũng không làm gì được.
Hiện tại kể cả Yến Phi cũng đã sinh ra hiếu kỳ với Động Cấp Kinh cái gì đó, thật ra trong đó chứa đựng thứ bí mật kinh thiên động địa gì mà khiến cho các cao thủ nhất thế hùng bá một phương như Nhậm Dao cũng bất chấp thủ đoạn để tranh giành, cuộc đấu chẳng vui lắm sao? Mà hiện thời kẻ chiếm hết thượng phong, chắc chắn là Nhậm Dao.
Con đường dịch đạo chàng đi kề bên Tuy Thủy, hẳn sẽ dẫn tới thành Hu Dị trên bờ nam Hoài Thủy. Hu Dị là một thành lớn phía bắc Kiến Khang.
Có thể tưởng tượng con đường dịch đạo này trước đây nhiệt náo phi thường, hiện tại thì cỏ dại mọc um tùm, lâu ngày không có người tu sửa, chỗ lồi chỗ lõm, nhưng cách đây không lâu vẫn có xe ngựa đi qua, dấu vết còn khá mới, rất nhiều khả năng là đội xa mã của Mạn Diệu phu nhân. Chẳng lẽ bà ta muốn tới Kiến Khang?
Yến Phi trong lòng còn đang tính toán đã thấy đặt chân tới Hoài Thủy, nếu bơi qua bên kia, theo bờ nam tiến về phía tây, tối đa mất hai ngày công phu có thể đến được Hạp Thạch thành, có thể nghỉ ngơi chữa thương cho khỏe khoắn, lại không lo gặp phải mấy kẻ xúi quẩy Nhậm Dao hay Thanh Thị đang đi tìm Lưu Dụ.
Cho dù hai người nọ có tới Hạp Thạch thành sớm hơn chàng một ngày hay nửa buổi, cũng không dám ngang nhiên mò vào thành nội tìm Lưu Dụ khắp nơi, vì đấy là trọng địa của Bắc Phủ binh, đụng đến Tạ Huyền, dù rằng cao minh như Nhậm Dao, cũng khó có thể chịu nổi.
Như vậy hai người bọn họ chỉ có thể ẩn phục ngoài thành kiếm cơ hội. Vượt qua đầu đường, Yến Phi giật mình dừng bước.
Không xa ở phía trước, chợt thấy một xác người nằm phục trên mặt đất, bội kiếm gãy rời thành hai đoạn, nằm bên xác chết. Coi phục sức rõ ràng là một võ sĩ trẻ tuổi của Tiêu Dao giáo hộ tống Mạn Diệu phu nhân, thân xác vẫn còn hơi ấm.
Yến Phi chợt có cảm giác cổ quái lịch sử trùng diễn, trong đầu thoáng hiện cảnh tượng Thái Ất giáo đồ bị Lư Tuần giết chết thây nằm ngổn ngang trên đường. Vội tiến đến kiểm tra kỹ càng cái xác, bên ngoài không thấy có vết thương nào, rõ ràng đã bị chấn đứt kinh mạch mà chết.
Thực lực đám giáo đồ Thái Ất giáo không thể so với xa đội của Mạn Diệu phu nhân được, bản thân bà ta cũng là một cao thủ, lại còn có Nhậm Dao loanh quanh trong vùng phụ cận.
Vậy thì ai dám nhè đầu thái tuế động thổ? Hỏi ai có thể chịu đựng được?
Yến Phi tiếp tục men theo con đường tiến nhanh, không lâu lại nhìn thấy hai thi thể, trong đó có một tiểu tỳ của Mạn Diệu phu nhân, kẻ hành hung chẳng những tâm ngoan thủ lạt, mà còn chắc chắn không phải là nhân vật chánh phái thế thiên hành đạo.
Chàng tuy không có hảo cảm với bất kỳ người nào của Tiêu Dao giáo, nhưng mà bất giác cũng nảy sinh lòng thương xót.
Ba người cùng chết một kiểu, đều bị hung thủ dùng tuyệt thế huyền công với thủ pháp dương cương chấn đứt tâm mạch, toàn thân không thấy thương thế nào khác, thủ pháp âm nhu đoạn mạch phá tim, chàng chưa bao giờ chứng kiến thủ đoạn tà ác đáng sợ đến như thế.
Lại vượt qua một khúc quanh, quả nhiên không ngoài sở liệu, chiếc xe ngựa hoa lệ đổ nghiêng bên đường, xung quanh xác chết rải rác, cảnh tượng thật không nỡ nhìn.
Yến Phi bỗng có cảm giác không rét mà run, kẻ truy theo Mạn Diệu phu nhân võ công còn trên cả Lư Tuần, nhân vật như vậy trong thiên hạ tìm được một người cũng chẳng dễ, vậy mà mấy ngày nay bọn họ lại hết người này đến người khác cứ như từ địa phủ hiện lên tác ác nhân gian ở Biên Hoang, nguyên nhân là chuyện gì vậy?
o0o
Trong khi quân khinh kỵ Bắc Phủ binh chia làm ba đường vượt sông, vì lòng sông hạ thấp, cung tiễn thủ bố trí ở tuyến đầu tiên của Đê Tần lại ở cách bờ trăm bộ, vì vậy về góc độ chỉ có thể nhìn thấy chỏm đầu địch nhân, đích ngắm khó khăn, lại thêm tiếng trống chấn động màng tai, nhất thời tâm trí hoang mang, chỉ có một số nhắm mắt xạ tiễn, đều bị địch nhân giơ cao thuẫn bài chắn hết.
Phù Dung ngồi trên mình ngựa nhìn thấy rõ ràng địch nhân phi ngựa vượt sông với tốc độ gần như trên đường bằng, mà nước sông tối đa chỉ tới gót chân ngựa, biết rằng trúng kế, thầm kêu bất diệu, liền bạt đao hô quân tiến lên, chỉ tiếc tiếng thét của hắn bị tiếng trống trận đinh tai nhức óc nhấn chìm.
Liền chuyển sang hô quân phóng tiễn, thì đã thấy hàng trăm mũi tên như mưa bấc từ dưới sông xạ tới trận địa bên mình, lập tức bắn ngã hơn chục người.
Tiền trận kiên cố lập tức rối loạn.
Tạ Huyền một mình một ngựa dẫn đầu vọt lên bờ sông, hét to: “Phù Kiên bại rồi!”.
Cần biết tuyến đầu của Tần binh chỉ cách bờ sông trăm bộ, với tốc độ kỵ binh chỉ trong chớp mắt công phu là đủ để xông vào trong trận, mỗi một tên Tần binh chỉ có thể tối đa bắn ra hai mũi tên.
Tạ Huyền xuất hiện khiến tứ phía đều nhằm vào ông xạ tiễn, ngờ đâu Tạ Huyền tả thuẫn hữu kiếm, thuẫn hộ mã kiếm hộ thân, bao nhiêu tên bắn tới đều bị đánh văng ra tứ phía, cực kỳ uy phong.
Ba lộ kỵ binh đồng thời vọt lên tây ngạn Phì Thủy, như lang như hổ xông vào địch trận.
Tần binh đang triệt thoái thế trận liền rối loạn, đám thì quay đầu nghênh chiến, đám thì tiếp tục thoái hậu, ngươi đụng ta, ta cản ngươi, hình thế hỗn loạn không chịu được.
Phù Kiên cùng đám tướng lãnh thấy địch nhân tới nhanh như vậy biết trúng kế, hoang mang kềm ngựa quay đầu, hét to lệnh cho thủ hạ xung quanh hồi đầu phản kích, tiếc rằng trận đã không còn thành trận, đội cũng không ra đội, hình thế càng thêm hỗn loạn.
Uổng cho hơn hai chục vạn đại quân lại vô pháp phát huy uy lực vốn có lấy nhiều hiếp ít.
Trên tuyến đầu tiên Phù Dung thấy tình thế không hay, liền hét to: “Bạt xuất binh khí, tác chiến tầm gần”.
Bộ binh vốn chủ yếu là Hán nhân thấy địch nhân xông đến khí thế hùng hổ, ngập ngừng không biết nên nỗ lực chiến đấu hay rút lui về phía sau, Chu Tự biết thời cơ đã đến, bèn thét to: “Tần quân bại rồi!” Liền đem thân binh thân tướng quay đầu bỏ chạy, Tần binh xung quanh nào biết phát sinh chuyện gì, lập tức chạy theo, tiền trận lộ ra một khoảng trống lớn, theo phản ứng rút dây động rừng, loạn càng thêm loạn.
Phù Dung thấy vậy biết ngay Chu Tự là phản đồ gian tế, liền vung đao thúc ngựa đuổi theo Chu Tự, hét to: “Kẻ nào lui là chém!”.
“Sưu” một tiếng, một mũi kình tiễn từ phía địch phương xạ tới, thấu qua ngực trái xuyên vào tâm tạng Phù Dung.
Trường đao trong tay Phù Dung rơi xuống, trước lúc chết hắn miễn cưỡng ngoái đầu nhìn lại, thấy Tạ Huyền đang xông tới chỗ mình, trường cung đã treo trở lại bên mình ngựa, ý niệm cuối cùng của hắn là hiểu rõ chẳng những thua trận này, mà Đê Tần cũng hoàn toàn tan vỡ.
Binh lính trên tiền tuyến thấy chủ tướng ngã ngựa, liền hè nhau quay đầu chạy, Chu Tự thì không ngừng hét lớn “Phù Kiên bại rồi!”, địch nhân lại đang xông đến ngay trước mặt, lập tức vứt cung bỏ giáo, bỏ chạy tứ tán về phía tây, làm cho quân kỵ đang muốn quay đầu hoàn kích bị chia năm xẻ bảy, không còn ra đội hình gì hết.
Chỉ thấy người ngựa giẫm lên nhau, ngựa đổ người ngã, hò hét vang trời, ba đội kỵ binh bên Tạ Huyền đã phá trận xông vào, chiến tranh không còn là chiến tranh, mà biến thành một bên thả sức chém giết một bên.
Bộ quân Bắc Phủ binh do Tôn Vô Chung cùng chư tướng chỉ huy, theo sau kỵ binh vượt sông, khi bọn họ leo lên đến bờ sông thì đại cục đã định, toàn thể cánh đồng hoang dọc theo tây ngạn Phì Thủy đầy nhóc Tần binh cả bộ lẫn kỵ đang tháo chạy tứ tung.
Phù Kiên hồi đầu muốn nghênh địch, mắt muốn đứng tròng, bất kể tả hữu cản trở, cố chết xông lên, ngặt một nỗi thân binh đoàn bị hàng đàn hàng lũ bộ binh chạy ngược trở lại đâm sầm vào, đành chịu chết không sao tiến lên được.
Khất Phục Quốc Nhân thấy kỵ đội của Tạ Huyền đang nhằm hướng có lá cờ tiết màu vàng nghiêng ngả của bọn hắn phi tới, biết bại thế đã thành, dù có Tôn Tử hạ phàm cũng không làm gì được, liền cố chết kéo cương ngựa Phù Kiên, kêu lớn: “Thỉnh Thiên Vương lui về Biên Hoang Tập”.
Phù Kiên vẫn muốn kháng cự, chợt một mũi tên bay đến như tia chớp, cắm ngập vào vai, đau đến nỗi y rú thảm một tiếng, nằm gục trên lưng ngựa.
Khất Phục Quốc Nhân không rảnh kiểm tra thương thế của y, kéo theo ngựa Phù Kiên phi về phía Hoài Thủy, Lữ Quang và chúng tướng dẫn theo một bọn thân binh vội vã bảo vệ hai bên cùng phóng đi.
Đê Tần quân kết quả bại trận hoàn toàn.
o0o
Đại hán trọc đầu phụ trách đoàn xe nằm chết bên cỗ xe, chỗ huyệt bối tâm y phục bị phá nát, lờ mờ nhìn thấy một dấu chưởng ấn tím đen, hai tay thò ra không tự nhiên, ngón tay giữa gập lại, tựa như muốn móc cái gì đó dưới mặt đất lên.
Yến Phi tới bên xác hắn quỳ xuống xem kỹ, quả nhiên đại hán này trước lúc lâm tử cố sức viết lên mặt đất một chữ “Giang”, ngón tay giữa còn dính lại ở nét chữ cuối cùng, sau đấy không chịu nổi mà chết đi, xung quanh không thấy người nào khác bị hại.
Có cao thủ như thế họ Giang?
Bỗng nhiên trong lòng chấn động, nghĩ đến một người.
Kẻ sát nhân nhất định là Thái Ất giáo chủ Giang Lăng Hư, sự thực lão đã vì Thiên Địa bội lén đến Biên Hoang Tập, chỉ vì đạo môn vướng phải lời thề nào đấy mà không ra mặt ở Nhữ Âm thành, đến khi phát hiện Vinh Trí mấy người bị hại, biết là do Nhậm Dao xuất thủ, mới nổi giận truy theo dấu bánh xe, đại khai sát giới. Nhậm Dao thì không theo đám Tiêu Dao giáo đồ nam hành, đương nhiên bọn họ gặp phải tai ương.
Coi vậy thì Thiên sư Tôn Ân mà mọi người nam phương đều sợ hãi cũng có khả năng ở đâu đó tại Biên Hoang.
Đại hán đầu trọc này là kẻ duy nhất thấy có vết thương trí mệnh, Yến Phi suy đoán võ công của hắn cao hơn đồng bọn nhiều, một mình độc lực chặn đánh Giang Lăng Hư, để cho đám Mạn Diệu phu nhân đào tẩu.
Nghĩ tới đó, Yến Phi quét mắt tìm trong đám rừng rậm bên đường, không bao lâu đã có phát hiện, phía bên tả có dấu vết cành lá rơi rụng do có người xông qua. Yến Phi nhảy vọt lên, lướt vào trong rừng, trong không khí còn vương vất mùi vị lưu lại từ yên vụ đạn Thanh Thị thường phóng ra.
Cũng có thể là do Tiêu Dao giáo đồ, hoặc là Mạn Diệu phu nhân thi xuất.
Đối với yêu nữ Thanh Thị, chàng là bạn hay là thù thật khó phân biệt, bất quá không hề có ác cảm. Ả ta tuy hành vi khó lường, phản phản phúc phúc, nhưng nhớ tới khuôn mặt xinh đẹp ngây thơ, thần tình khả ái tại Trữ gia thôn khi giục chàng đào tẩu, cảm thấy ả ta hoàn toàn không phải hạng cùng hung cực ác như Nhậm Dao.
Chàng bất giác tiến sâu vào bên trong hơn mười trượng, một thi thể phụ nữ bị treo cao trên cây, tóc tai rũ rượi, lại là một tỳ nữ khác của Mạn Diệu phu nhân.
Yến Phi bình thường chuyện khó nhẫn nhịn nhất chính là nam nhân mạnh khỏe ngược đãi nữ lưu, Tiêu Dao giáo nữ đồ tuy không phải hạng nữ nhân yếu đuối, càng không phải là thiện nam tín nữ, nhưng mà thủ đoạn độc ác tàn nhẫn của Giang Lăng Hư vẫn khiến chàng hết sức phẫn nộ.
Vốn định hãy cứ xem đã, chẳng nên nhúng chân đụng tay vào chuyện tà giáo tàn sát lẫn nhau, cuối cùng quên luôn, xuyên vào rừng sâu toàn tốc truy theo vết tích còn lưu lại, cũng quên luôn thân mình đang mang nội thương nghiêm trọng.
o0o
Tạ Huyền dừng ngựa trên bờ nam Hoài Thủy, ngưng thần nhìn sang rừng núi hoang vu bên đối ngạn, ba đạo phù kiều do Phù Dung kiến lập nằm vắt ngang sông phía trước mặt, thủy sư của đại Tấn đang ngược dòng Hoài Thủy tiến đến, chuyển qua hướng bắc tiến nhập Dĩnh Thủy, cờ xí tung bay triển khai hướng về Biên Hoang Tập, tiến công vào cứ điểm đại hậu phương của địch, cần nhất là phải trước một bước phá hủy chỗ dựa duy nhất để Phù Kiên lật ngược tình thế.
Lưu Dụ cùng một bọn thân binh thúc ngựa theo sau Tạ Huyền, trong lòng đầy hưng phấn vì thắng lợi, cũng pha lẫn nỗi đau thấy mạng người trong chiến tranh không khác gì cỏ rác.
Trận chiến Phì Thủy đã cáo chung với mấy chữ “Tần binh đại bại”.
Chỉ là địch nhân “tự giày xéo lẫn nhau mà chết, ngổn ngang khắp đồng hoang”.
Hiện tại Lưu Lao Chi và Hà Khiêm mỗi người dẫn một cánh quân phân biệt ở hai bờ Hoài Thủy truy sát địch nhân đào vong, Tạ Thạch và Tạ Diễm thì phụ trách thu thập tàn cục,
tiếp thu Thọ Dương, xử lý địch nhân thương vong và thu gom chiến mã, binh khí, cung tên, lương thảo, vật tư địch nhân bỏ lại.
Tạ Huyền suất lĩnh hai ngàn tinh kỵ, vừa tới đây liền dừng ngựa đứng suy tư, kể cả Lưu Dụ, không ai biết ông nghĩ đến chuyện gì.
Tạ Huyền chợt nói: “Tiểu Dụ tới đây”.
Lưu Dụ vỗ ngựa tiến lên, tới gần ngang với Tạ Huyền, hết sức cung kính nói: “Xin Huyên soái phân phó!”.
Tạ Huyền song mục xạ xuất thần sắc mê man, nhẹ thở dài nói: “Ngươi có cảm giác gì?”.
Lưu Dụ hết sức ngạc nhiên, thật thà đáp: “Đương nhiên là tâm tình hưng phấn, lại như trút được gánh nặng. Phù Kiên bại trận này, sẽ khiến bắc phương chia năm xẻ bảy, chúng ta chẳng những có thể yên ổn một giai đoạn, mà còn có thể thừa thế bắc phạt, thống nhất thiên hạ, Lưu Dụ chỉ mong được đi theo Huyền soái đánh dẹp bắc phương”.
Tạ Huyền không quay đầu nhìn gã, quan sát ba cỗ đại thuyền từ từ tách ra cập vào bến đỗ tạm thời do người Tần thiết kế, thần sắc thản nhiên nói: “Nếu mọi chuyện đơn giản như Tiểu Dụ nói, thì trên đời này sẽ bớt đi rất nhiều chuyện phiền não, tiếc là mong muốn và sự thực thường trái ngược nhau, Tiểu Dụ phải ghi nhớ bốn chữ 'nhân tâm nan trắc'1“.
Lưu Dụ bây giờ đã coi ông hơn hẳn thần tượng anh hùng Tổ Địch xưa nay của mình, nghe lời này trong lòng chấn động nói: “Tiểu Dụ không hiểu rõ ý Huyền soái”.
Tạ Huyền nói: “Rồi có một ngày ngươi sẽ hiểu rõ. Chiến tranh là thứ vô tình, hiện giờ chúng ta cần phải thừa thế đuổi đánh đến cùng, tiêu diệt bằng hết, ra sức thu hồi đất đai bị mất nhiều năm rồi. Ài! Trước đây ta rất mừng vui vì sự tồn tại của Biên Hoang, để cho chúng ta có thể bảo trì cục diện hòa bình phồn vinh, nhưng lúc này, Biên Hoang lại thành ra chướng ngại to lớn nhất”.
Lưu Dụ ngấm ngầm tán thành.
Biên Hoang vì là vùng đất đệm hoang vu không người, đường đi không có thành thị thôn làng, cả hai phía bắc nam bên nào muốn tấn công đối phương đều phải tốn công tốn sức, trên đường hành quân và vận chuyển lương thảo càng phải phí tâm tư, còn để đối phương có thừa thời gian chuẩn bị nghênh chiến, hiện đã biến thành chướng ngại thiên nhiên đối với Nam Tấn.
Nhưng hiện giờ Phù Kiên đại bại, lại do Nam Tấn không có chuẩn bị cho công cuộc bắc phạt, tối đa cũng chỉ thu hồi được đại thành Tương Dương là Biên Hoang đã rơi vào tay Để Tần, không dễ thừa thế truy kích, nhất cử thu phục bắc phương.
Nếu đợi đến khi các tộc bắc phương thế đứng ổn định rồi, tình hình sẽ đảo ngược, bắc phạt càng bất lợi, vì vậy Tạ Huyền mới lộ vẻ cảm thán.
Còn nếu bắc phạt có thể thành hay không, phải coi lại tâm ý triều đình, Tạ Huyền nói “nhân tâm nan trắc”, ít nhất cũng có một phần có xuất xứ từ đó.
Chiến mã từ ba cỗ đại thuyền ào ào tuôn xuống bờ sông, nhìn thấy vậy Lưu Dụ hết sức nghi hoặc, không biết từ đâu ra đám ngựa này, mà lại tập trung toàn chiến mã hảo hạng đã được tinh tuyển.
Lưu Dụ không kềm được hỏi: “Đám ngựa này...”.
Tạ Huyền mỉm cười: “Tiểu Dụ chẳng lẽ quên mất trận Lạc Giản rồi sao?”.
Lưu Dụ chợt hiểu rõ, đám chiến mã thượng hạng này là chiến lợi phẩm thu được trong trận đánh bại quân Lương Thành, lòng đã minh bạch nói: “Huyền soái phải chăng chuẩn bị tự thân truy kích Phù Kiên?”.
Tạ Huyền sau cùng liếc nhìn gã, gật đầu nói: “Đầu óc tiểu Dụ thật linh hoạt, đó chính là truy bách tới cùng, đuổi tận sát tuyệt, nếu không ta biết ăn nói thế nào với triều đình?”.
Lưu Dụ thầm khen tuyệt, lại càng thêm bội phục, Tạ Huyền đích thực tính toán không sót điều gì, nếu đổi lại là mình, chắc chắn sẽ mang chiến mã ra sử dụng trong trận chiến vừa rồi, như thế có thể khiến địch nhân sinh lòng cảnh giác, không dễ trúng kế, nếu mang những chiến mã mạnh khỏe này thay đổi cho những con mỏi mệt vì chiến trận để truy sát đám người ngựa kiệt sức của Phù Kiên, đúng là thượng thượng sách, chẳng trách Tạ Huyền không chút lo lắng về chuyện Phù Kiên càng lúc càng chạy xa, bởi vì đàn ngựa chiến tinh nhuệ được ăn uống đầy đủ này đem ra truy đuổi địch nhân không được nghỉ ngơi lại sức, tất sẽ nhẹ nhàng thu thập đối phương.
Từ lúc thắng phụ chưa rõ, Tạ Huyền đã quyết định xong toàn bộ kế hoạch truy sát Phù Kiên, thật đáng gọi là minh soái, sau chiến thắng liền tận lực tranh thủ đoạt lấy chiến quả lớn nhất.
Tạ Huyền điềm đạm nói: “Ngươi đoán Phù Kiên sẽ chọn lộ tuyến nào để chạy trốn?”. Lưu Dụ không chút do dự đáp: “Biên HoangTập!”.
Tạ Huyền cười ha hả: “Trả lời tốt lắm! Phù Kiên bại trận này là hết sức ngoài ý liệu, lại đau lòng vì cái chết của Phù Dung, tất sẽ toàn lực chạy về Biên Hoang Tập, hy vọng lấy hơn
mười vạn quân của Biên Hoang Tập, cộng với chấn chỉnh bại quân, mưu đồ phản công. Ta muốn lợi dụng tâm lý này của y, đánh cho y vĩnh viễn không thể trở về phương bắc nữa”.
Lưu Dụ phấn khởi nói: “Dù Phù Kiên tinh minh đến đâu cũng không nghĩ Mộ Dung Thùy và Diêu Trường lại bán đứng y, cho là dựa vào binh lính chưa hề tổn hại gì của hai người này, có thể giúp y vãn hồi cục diện. Như hiện giờ có thể chắc chắn rằng Mộ Dung Thùy cố nhiên án binh bất động, Diêu Trường nghe tin Phù Kiên thua trận cũng sẽ lập tức suất lĩnh thủ hạ triệt thoái về phương bắc. Tại Biên Hoang Tập không có đại tướng xuất sắc nào chủ trì, lại thêm nhân tâm bàng hoàng, thủy sư của chúng ta công đến, binh tướng thủ giữ Biên Hoang Tập nghe tiếng mà chạy, không đánh mà tan. Kế hoạch này của Huyền soái quả thực cao minh”.
Tạ Huyền im lặng một lát, chợt trầm giọng nói: “Chúng ta phải thận trọng với Mộ Dung Thùy, hiện tại tâm nguyện của hắn đã thành, Đê binh của Phù Kiên đã tan nát, quan hệ của hắn với chúng ta đã thay đổi rồi, không còn lợi dụng lẫn nhau được nữa”.
Lưu Dụ gật đầu tiếp thụ, trong lòng thêm cảm kích, Tạ Huyền đích thực đặc biệt coi trọng gã, chẳng những chịu cùng trao đổi tâm sự mà còn ân cần dạy bảo gã, kỳ vọng hắn thành tài.
Tạ Huyền nói: “Chúng ta đi thôi!”.
Rồi dẫn đầu thúc ngựa phi xuống phù kiều.
Lưu Dụ cùng chúng kỵ binh phi theo sau, vó ngựa đạp lên cầu phao, phát ra âm thanh giòn giã, phảng phất như khua lên những tiếng chuông nguyện hồn Phù Kiên. Đế quốc Đê Tần hùng mạnh đã tới hồi kết liễu.
Chú thích:
1- Lòng người khó lường.
__________________
Trả Lời Với Trích Dẫn