Biên hoang truyền thuyết
Hồi 31
Đệ kế huynh vị
Yến Phi dán mình vào thân thuyền không một tiếng động trườn xuống nước, không lặn đi mà lại vận công vào song thủ hút chặt vào thân thuyền, chỉ để khuôn mặt ló lên khỏi mặt nước. Đó chính là biện pháp khôn ngoan của chàng, nếu là Lư Tuần quay trở lại, quyết truy tìm Vinh Trí, chắc chắn sẽ không bỏ qua đáy sông mà không kiểm tra kỹ càng, dưới ánh sáng tịch dương chưa tắt hẳn, lại thêm nước sông không sâu, chàng tuyệt không thể tránh khỏi cặp mắt của hạng cao thủ tuyệt đỉnh như Lư Tuần.
Vừa mới ẩn kín thân hình, tiếng động đầu mũi chân điểm lên đầu thuyền đã truyền đến. Yến Phi nghĩ thầm sao đến nhanh thế, vội trườn xuống dưới đáy thuyền.
Quả nhiên người nọ trước tiên đi một vòng quanh mép thuyền, sau đó mới tiến vào trong khoang.
Yến Phi thầm khen Lư Tuần quả nhiên là lão giang hồ, tuy nhìn thấy thi thể Vinh Trí, vẫn không vội tiến vào khoang mà trước tiên xem xét tình huống xung quanh thuyền, sau khi vào trong quan sát Vinh Trí, lại quay lại vận công vào song nhĩ, chăm chú nghe ngóng, đồng thời vận tụ công lực đề phòng có kẻ hốt nhiên tập kích.
Đối phương chợt từ trong khoang lao vụt ra, nhảy về phía đuôi thuyền. Yến Phi thầm tiếc rẻ, Lư Tuần chuyển chỗ như thế khiến chàng mất cơ hội tốt để đột kích. “Đại sư huynh!”.
Yến Phi lấy làm ngạc nhiên, người bên trên hóa ra không phải Lư Tuần, tuy nhiên công phu khinh thân của hắn chắc chắn không kém gì Lư Tuần, chỉ không biết là cao thủ tuyệt đỉnh phương nào. Nên biết cao thủ cỡ như Lư Tuần, thiên hạ chỉ đếm được trên đầu ngón tay. Bỗng dưng ở đâu xuất hiện một kẻ như thế, đương nhiên khiến chàng hết sức kinh dị.
Tiếng gió cuộn tới, một người từ bờ sông vọt lên đầu thuyền, ngạc nhiên nói: “Sao lại là Đạo Phúc ngươi?”.
Người vừa nói mới đúng là Lư Tuần, Yến Phi đã nghe hắn đối đáp với kẻ đến trước, vì thế mới biết là ai với ai.
Thiên Sư đạo, nhân vật danh tiếng cao nhất đương nhiên là Thiên Sư Tôn Ân, tiếp đến là hai đệ tử chân truyền của lão - “Yêu Soái” Lư Tuần và “Yêu Hầu” Từ Đạo Phúc, mà người sau chính thị vang danh Giang Đông mỹ nam tử, không biết bao nhiêu mỹ nữ rơi vào tay hắn, bị lừa mất cả trái tim lẫn thân thể.
Chẳng ngờ lưỡng đại cao thủ Thiên Sư đạo tập trung cả ở đây, do đó có thể nói giang hồ đại biến đến nơi rồi.
Từ Đạo Phúc đáp: “Lại còn chẳng phải vì cái người coi rẻ nam nhân thiên hạ đó sao, thật là một mỹ nhân kiêu sa. Ta đã cùng nàng tiếp xúc sơ sơ, hết sức mong mỏi được thỏa tình như nguyện, đáng tiếc khi theo đến Biên Hoang, bỗng nhiên tung tích nàng biến mất, tìm đến chốn này, phát hiện đại sư huynh đang xuất thủ thâu tập kẻ địch, bèn tới đây”.
Lư Tuần cười nói: “Người ta nói mỹ nhân kế đến đâu cũng thuận lợi, ta nói mỹ nam kế của Đạo Phúc ngươi mới là vĩnh viễn không thất thủ. Ài! Vinh Trí đạo huynh của chúng ta vì sao phải sớm về Tây thiên, có phải do ngươi hạ thủ không?”.
Yến Phi nghe thấy Từ Đạo Phúc không chút ngượng ngùng tự mình khoe khoang đi lừa gạt tâm ý con gái nhà người ta, thầm mắng bẩn thỉu, nhưng không thể không thừa nhận hắn có chất giọng êm ái dễ nghe, có thể dụ cho kiến trong hang phải bò ra, phối hợp khéo dùng từ cao nhã, lời lẽ nói ra ngọt ngào, đúng là hại khổ mỹ nữ thiên hạ, cũng khiến chàng càng cảm giác Từ Đạo Phúc thâm độc hiểm ác.
Từ Đạo Phúc nói: “Lúc ta tới gã đã ra thế này rồi, ta đã coi qua kinh mạch gã, thiên hạ chỉ có chân khí Tiêu Dao Quyết chí âm chí hàn của Nhậm Dao mới có thể làm tâm mạch gã đóng băng lại như thế, bị rồi là không cách nào cứu được”.
Yến Phi trong lòng kinh sợ, người này quả nhiên có bản lãnh, chỉ qua tình trạng kinh mạch đã có thể suy ra nguyên nhân cái chết của Vinh Trí.
Lư Tuần nói: “Hóa ra Nhậm Dao thân hành hạ thủ, chẳng trách Vinh Trí không tránh khỏi kiếp số! Tiêu Dao Quyết tà độc âm hiểm, có thể trường kỳ tiềm phục trong thân thể người thụ thương, chờ dịp hoành hành, nếu không triệt để bài trừ độc hại, có thể phát tác bất cứ lúc nào”.
Yến Phi thầm kêu hỏng bét, cứ lấy làm lạ sao thương thế chưa lành, thì ra chân khí của Nhậm Dao đáng sợ như vậy.
Từ Đạo Phúc nói: “Chuyện này thật ra là sao đây? Vinh Trí sao lại gặp phải Nhậm Dao, đại sư huynh ngươi vì cái gì mà tới đây vậy? Thiên Địa bội đã lấy được chưa?”. Lư Tuần hừ lạnh một tiếng nói: “Đừng có nói nữa! Thiên Địa bội được rồi lại mất, do yêu nữ Thanh Thị và hai tên tiểu tử làm vỡ, ta chính là đang tìm hai tiểu tử đó tính sổ đây”.
Tiếp đó đem sự tình lược thuật lại, lại nói: “Trong số hai tiểu tử có một là người của Bắc Phủ binh, oan có đầu nợ có chủ, để coi xem bọn chúng có bay được đến đấy không?”. Yến Phi nghe đến đấy âm thầm cười khổ, Lưu Dụ trêu vào kẻ cùng hung cực ác như thế, nếu mình không tìm gã cảnh cáo một câu thì không ổn.
Từ Đạo Phúc hung hãn nói: “Đại sư huynh cần nhanh lên một chút, bằng không nếu để Phù Kiên công hãm Kiến Khang, nhà tan người tán, muốn tìm người sẽ mất một phen công phu đấy!”.
Trong lúc hắn nói đến chuyện Phù Kiên công hãm Kiến Khang, ngữ khí tràn đầy hứng thú về chuyện tai họa rớt xuống đầu kẻ khác, lộ rõ cừu hận sâu sắc đối với chính quyền Nam Tấn. Yến Phi không lạ gì thái độ của hắn, trong lúc cùng Lưu Dụ bôn tẩu tới Biên Hoang Tập, chàng đã đại khái nắm được những điều liên quan đến Thiên Sư đạo.
Thiên Sư đạo xuất hiện không phải ngẫu nhiên, mà sinh ra từ bất mãn của Giang Đông thế tộc cùng những di dân thất thế.
Lấy Tôn Ân làm ví dụ, vốn xuất thân từ thế tộc Giang Đông, bị thế tộc nam lai áp bức bóc lột, trải qua nhiều lần cắt đất đã biến thành hạng nghèo đói mạt rệp, đối với chính quyền hận thù sâu sắc, mới lập chí làm phản.
Còn đối với Lư Tuần và Từ Đạo Phúc, gia tộc được coi là vọng tộc phương bắc, nhưng lại qua sông hơi muộn, không thể cùng chính quyền Giang Đông chia chung bát canh, cũng hóa ra hàn môn, bất luận là vọng tộc hay không, nhất luật trở nên nghèo đói.
Hai thế lực bất mãn chính quyền kết hợp, cộng thêm đạo giáo dị đoan, mới thành ra tín ngưỡng của dân chúng vùng tam Ngô - Thiên Sư đạo.
Oán khí sâu dày tích lũy lâu ngày của nhân sĩ bổn địa cùng sĩ tộc nam lai thất thế nhân công cuộc nam chinh của Phù Kiên cuối cùng cũng đến thời khắc bộc phát thành đại loạn.
Căn cứ vào tiếng động do hai người tiến vào khoang thuyền, và tiếng y phục bị xé rách, chắc hẳn hai người đang tìm kiếm gì đó trên thi thể Vinh Trí.
Từ Đạo Phúc nói: “Vừa rồi ta dò theo kinh mạch hắn, phát hiện trong nội thể hắn còn có một luồng ngoại khí không phải của Nhậm Dao, thoắt ẩn thoắt hiện, do vậy nhiều khả năng có người đi trước chúng ta một bước, muốn kéo dài sinh mệnh hắn lúc lâm tử”.
Yến Phi lập tức cảm giác xương sống lạnh toát, bên cạnh nước sông càng lạnh lẽo thấu xương, Từ Đạo Phúc thật cao minh, chỉ qua lời này của hắn, càng thấy dự liệu khi nãy của mình không sai, thời gian Từ Đạo Phúc vào khoang thuyền chỉ chừng vài lần hít thở, mà có thể đoán trúng ngần ấy chuyện như chính mắt chứng kiến, người này quả thực trí kế võ công đều không thể coi thường.
Nữ tử mà hắn định dùng mỹ nam kế đối phó cuối cùng là ai? Từ Đạo Phúc phí tâm phí lực như thế, chỉ vì muốn đoạt được tình cảm của một nữ tử sao? Trong đầu bất giác hiện lên cặp mắt to thần bí mà mỹ lệ.
Lư Tuần thở dài nói: “Nhiều khả năng quá! Hiện giờ Biên Hoang Tập cao thủ như mây, Nhậm Dao cũng đã có mặt, chúng ta hành sự nên thận trọng”.
Từ Đạo Phúc nói: “Hai sư huynh đệ ta tình cờ may mắn gặp nhau ở đây, chi bằng cùng tiến cùng thoái, cùng hành động, nếu có thể tìm thấy Nhậm Dao, dựa vào sức hai ta liên thủ, không chừng có thể qua được đại nạn này”.
Lư Tuần cự tuyệt: “Đừng gây thêm rắc rối, Nhậm Dao tung hoành thiên hạ, chưa có địch thủ, lại giảo hoạt như cáo, hung tàn độc ác, bằng không đã chẳng giết thầy đăng vị, đối phó với y, có lẽ cần Thiên Sư thân hành ra tay mới được. Sư đệ ngươi có nhiệm vụ trọng đại, không thể thất bại, biết được Đan kiếp ở đâu, mới là chuyện quan trọng”.
Yến Phi nghe đến đây ngớ hết cả người, Đan kiếp há chẳng phải là nằm trong cái bình nhỏ trong người chàng sao? Lư Tuần trọng thị như vậy, hẳn vật này không phải tầm thường, vì sao lại rơi vào tay Vinh Trí? Theo đạo lý Vinh Trí cần phải mang nó hiến lên cho Giang Lăng Hư, mà không phải trước khi chết giao phó cho mình mang tới cho một người khác.
Đủ thứ nghi vấn cuồn cuộn trong lòng.
Từ Đạo Phúc nói: “Sư huynh dạy rất đúng, ta đi đây”.
Yến Phi từ từ chìm sâu xuống đáy sông, lúc này trời đã tối đen, không lo bị hai đại hung nhân phát giác chàng ngầm tiến qua bờ bên kia.
Chưa có lúc nào, tâm tình của chàng lại trầm trọng bất an như lúc này.
o0o
Tạ An ngồi một mình trong một góc Vong Quan hiên, chỉ có cây đèn cô độc làm bạn, tâm tư dâng trào.
Từ lúc cái tin Hoàn Xung vì vết thương cũ tái phát, đột nhiên chết đi truyền về Kiến Khang, ông ngồi nguyên tại đó, từ chối cả bữa ăn tối.
Hiện tại quân chính đại quyền của Hoàn Xung tại Kinh Châu đã rơi vào tay đệ đệ của ông ta là Hoàn Huyền, chỉ thiếu sự thừa nhận chính thức của Tư Mã hoàng thất.
Tin tức về cái chết của Hoàn Xung hiện chỉ lan truyền trong giới vương công đại thần, nhưng mà giấy làm sao mà bao được lửa, nếu Tạ An không ứng phó cho tốt, sẽ gây nên một cuộc đại khủng hoảng trong dân chúng Kiến Khang thành.
Tư Mã Diệu đã hai lần phái người giục ông vào cung gặp mặt, đều bị ông cự tuyệt lần khần, bất quá đấy không phải là một biện pháp tốt, nhân vì sự tình đã đến mức không thể chần chừ hơn được nữa.
Từ trước tới nay, Hoàn Xung và ông là hai cột trụ của triều đình phương nam, với Hoàn Xung tọa trấn ở Kinh Châu, vùng Kinh Tương vững như Thái Sơn, khiến cho Dương Châu không lo gì về mặt tây.
Hoàn Huyền bất luận võ công hay binh pháp đều kém xa người anh, nam phương chỉ có một “Huyền” khác, Tạ Huyền, là có thể sánh ngang và có thể kế thừa địa vị đó. Hoàn Huyền bản tính kiêu ngạo ngang ngược, bụng chứa dã tâm, để hắn ở ngôi vị Đại tư mã tuyệt không phải là điều phúc cho đại Tấn, mà còn là đại họa trong gan ruột. Tống Bi Phong tiến vào Vong Quan hiên, thẳng tới bên Tạ An, quỳ xuống bẩm: “Giang Hải Lưu cầu kiến An gia”.
Tạ An điềm đạm nói: “Còn ai đi cùng với hắn?”.
Tống Bi Phong đáp: “Hắn tới một mình, không mang theo tùy tòng”.
Tạ An nói: “Mời hắn vào”.
Tống Bi Phong lãnh mệnh đi ra, lúc sắp đi muốn nói gì lại thôi. Tạ An đương nhiên biết hắn muốn giục mình nhập cung gặp Tư Mã Diệu, bởi Tư Mã Đạo Tử, Vương Thản Chi đã sớm phụng mệnh nhập cung thương nghị, chỉ thiếu một mình ông.
Đưa Giang Hải Lưu vào ngồi xuống bên Tạ An rồi, Tống Bi Phong thoái lui ra ngoài hiên.
Tạ An trầm giọng nói: “Hải Lưu thấy chuyện này thế nào?”.
Vốn luôn thâm trầm mà khi nghe hỏi như vậy, thân hình to lớn Giang Hải Lưu bất giác chấn động, trầm ngâm một lát rồi cười khổ đáp: “Đúng lý thì không có điều gì nghi vấn cả, Đại tư mã thân thể mấy năm gần đây vì độc thương cũ thỉnh thoảng lại tái phát, hiện nay đại quân Phù Kiên nam lai, tinh thần và thân thể đều phải chịu áp lực nặng nề, chịu không nổi bệnh cũ phát tác, ai!”.
Tạ An bình tĩnh nói: “Hải Lưu biết chuyện này từ khi nào?”.
Giang Hải Lưu thoáng do dự, cuối cùng mới thành thực nói: “Hải Lưu sớm nhận được tin tức, bất quá vì chưa hiểu rõ tình hình Kinh Châu lúc này nên không dám tới gặp An công”.
Tạ An ngầm thở dài, Giang Hải Lưu và Hoàn Huyền trước nay quan hệ mật thiết hơn nhiều so với quan hệ cùng Hoàn Xung. Bản thân ông đến tận hoàng hôn mới có tin tức, nhưng Giang Hải Lưu thì đã sớm được Hoàn Huyền báo tin trước đến mấy canh giờ, vì Hoàn Huyền muốn nhờ thế lực và ảnh hưởng của Giang Hải Lưu ở Kiến Khang giúp hắn thuận lợi kế thừa quyền vị của Hoàn Xung.
Hiện tại Tư Mã Diệu đồng ý hay không, hoàn toàn ở một câu nói của ông. Tư Mã hoàng thất đương nhiên không muốn để Hoàn Huyền tập trung quân chính đại quyền Kinh Châu vào tay hắn, lại còn hy vọng nhân cơ hội này cắt giảm quyền lực của Hoàn gia, bất quá phải có sự đồng ý của người đứng đầu Bắc Phủ binh Tạ An mới được.
Tạ An nói được hay không chỉ cần một câu, nhưng bất kỳ phương diện nào cũng đều mang tới hậu quả vô cùng nghiêm trọng.
Để Hoàn Huyền ngồi lên chiếc ghế Đại tư mã, trong thời gian ngắn đương nhiên tất cả bình an vô sự. Nếu không đồng ý, mâu thuẫn Kinh, Dương lập tức trở nên căng thẳng, nội chiến sẽ nổ ra lúc nào không biết. Tại thời điểm quyết chiến với Phù Kiên hiện giờ, giống như đổ dầu vào lửa, tuyệt không phải là đem phúc tới cho thần dân nam triều.
Mâu thuẫn trong lòng Tạ An như thế nào, có thể thấy rõ.
Nhạt giọng nói: “Tin tức có phải do Hoàn Huyền đưa lại không?”.
Giang Hải Lưu rất muốn không phải trực tiếp trả lời câu hỏi không chút e dè như núi lở trước sân này, nhưng không có cách nào khác, đành ủ rũ gật đầu: “Chính là như thế!”. Tạ An khẽ cười: “Hải Lưu hiểu rõ tình thế rồi chứ?”.
Giang Hải Lưu lại ngầm hít một khẩu khí, hơi cúi đầu, hạ giọng nói: “Trong tay Hải Lưu có một bản tấu chương do đại tộc môn võ tướng ở Kinh Châu cùng nhau thảo ra, khẩn khoản xin Hoàng thượng chuẩn y để Nam quận công kế thừa trọng vị Đại tư mã, làm yên lòng quân dân, cùng đoàn kết nhất trí, ứng phó Phù Kiên. Ài! Hải Lưu cũng đã ký vào bản tấu chương, chuẩn bị sau khi báo lên An công, lập tức tâu với Hoàng thượng”.
Tạ An càng thêm buồn cười, mắt không chớp nhìn chằm chằm vào Giang Hải Lưu. Giang Hải Lưu cười khổ: “An công có thể cho Hải Lưu nói mấy lời riêng tư không?”. Tạ An thung dung nói: “Đó chính là điều ta đang muốn nghe đây!”.
Giang Hải Lưu nhích lại gần hơn, hạ giọng chỉ để Tạ An nghe thấy, nói: “Huyền soái xuất quân thắng trận, đại phá quân Lương Thành, lại gây áp lực khiến đại quân tiên phong của Phù Kiên phải kéo về tây Phì Thủy, thắng lợi có thể hy vọng. Bất quá không biết An công có từng nghĩ qua nhược bằng trận chiến này chúng ta kết thúc đại thắng, tình thế phát triển sau này đối với Huyền soái và An công chẳng phải sẽ vô cùng bất lợi sao?”.
Tạ An nhíu mày: “Câu chuyện đùa này phải chăng là do Nam quận công sai ngươi nói với ta?”.
Giang Hải Lưu ngồi thẳng người lên, chậm rãi lắc đầu nói: “Chính là suy nghĩ chân chính trong lòng Hải Lưu, nếu có một chữ không đúng, xin cho Hải Lưu chết không yên lành. An công tại thời khắc quan trọng này chịu giúp đỡ Nam quận công, Nam quận công tất nhiên sẽ mãi mãi cảm kích. Đương nhiên rõ ràng An công không cần Nam quận công đối với lão nhân gia người cảm ân đồ báo, mà đó là vì Huyền soái và thần dân đại Tấn ta mà nghĩ. Chỉ cần một ngày Nam quận công khống chế Kinh Châu, họ Tư Mã không thể không trọng dụng Huyền soái, để mà cân bằng tình thế. Giang Hải Lưu tôi xin bằng tính mệnh bảo đảm tuyệt không thiên vị bên nào, cũng lấy đó để báo đáp ân tình trước đây của họ Tư Mã đối với Hải Lưu này. Đây chính là lời từ phế phủ của Hải Lưu”.
Tạ An một lần nữa thầm than, Giang Hải Lưu xác thực nhãn quan rộng lớn, quan sát tình thế rất chính xác. Hiện tại ông chỉ có thể chọn lựa hoặc giúp Hoàn Huyền hoặc để hắn tách rời khỏi triều đình phương nam.
Người mà Hoàn Huyền cố kỵ nhất là Tạ An và Tạ Huyền, còn lại bất kỳ ai hắn đều không coi vào đâu. Xét cho kỹ hơn thì người mà Giang Hải Lưu sợ nhất cũng là bản thân ông và Tạ Huyền, chỉ cần một trong hai người còn sống, cho là có một ngày Giang Hải Lưu táo gan làm lớn, cũng không dám giúp Hoàn Huyền khởi binh làm loạn. Nếu không có Giang Hải Lưu trợ giúp, Hoàn Huyền cũng vô phương khống chế thượng du Trường Giang, vì vậy mà lời này của Giang Hải Lưu chắc chắn không phải là nói ngoa. Nhưng nếu ông trợ giúp Hoàn Huyền, mà không thiết pháp để lần lữa hoặc thừa cơ tước đoạt binh quyền của Hoàn gia, chắc chắn sẽ làm cho Tư Mã Diệu và Tư Mã Đạo Tử thêm nghi ngờ Tạ gia.
Trong tình hình như vậy, ông thật quả tiến thoái lưỡng nan.
Tạ An bình tĩnh nói: “Hải Lưu phải hiểu thật rõ tâm ý Nam quận công mới được”.
Giang Hải Lưu thở dài: “Hiểu rõ rồi thì làm sao? Cho là Nam quận công chịu khuất phục hoàn cảnh, cuộc chiến này nếu thắng, nam phương còn ai dám cùng Huyền soái tranh phong? Nhưng nếu chiến sự tiếp tục, triều đình hẳn không thể không nhờ đến Nam quận công và binh lực Kinh Châu. Trước mắt cần thiết nhất là đoàn kết, bất luận thắng hay thua, hợp tác Kinh - Dương là bắt buộc. Đó là ngu kiến của Hải Lưu, xin An công định đoạt”. Tạ An gật đầu nói: “Hải Lưu lập tức mang tấu chương đưa vào hoàng cung xin Hoàng thượng xem xét, ta sẽ vào sau”.
Giang Hải Lưu mừng rỡ nói: “Vậy là An công chịu hết sức giúp Nam quận công rồi”. Tạ An mỉm cười: “Đó chẳng phải tâm nguyện của ngươi sao?
Giang Hải Lưu đỏ bừng mặt, ấp úng nói: “Hải Lưu chỉ là hy vọng đại Tấn ta thứ nhất không mất vào tay Phù Kiên, thứ hai không để mất cơ hội tốt thừa thắng bắc phạt, cả hai phương diện đều phải do An công giúp đỡ Nam quận công mới được”.
Tạ An chẳng nói chẳng rằng, chỉ nói: “Đi đi!”.
Giang Hải Lưu đứng lên thi lễ, vội vã đi ra.
Tạ An tâm tư trong lòng dâng lên như sóng cả ngập trời, hiện tại Hoàn Huyền có thể kế nghiệp huynh trưởng hay không hoàn toàn phụ thuộc vào ông.
Giang Hải Lưu tuy là thay Hoàn Huyền làm thuyết khách, nhưng lời hắn nói ra lại không phải không có lý, dư luận từ bên ngoài ám thị muốn thu hồi quyền lực của Hoàn Huyền, nhất thời cũng không cần gấp gáp.
Sự thực chỉ cần một ngày Tạ Huyền còn đó, Hoàn Huyền cũng không khác gì bị áp chế chặt chẽ, trong hoàn cảnh này, Tư Mã hoàng triều cũng không thể không dựa vào Tạ Huyền, Tạ gia thời vững như Thái Sơn.
Nếu tương lai Hoàn Huyền có hành động sai trái, Tạ Huyền cũng thừa đủ năng lực thu thập hắn.
Nhưng nếu hiện tại Hoàn Huyền không có sai lầm đáng kể gì cần phải ứng phó, làm sao khiến thế lực sở tại và quân dân Kinh Châu tâm phục đối với Hoàn Huyền. Đối với chuyện phân chia quyền hành, Tạ An cuối cùng đã có một quyết định gian nan, với Hoàn Huyền quyết ý tiện thể tạo dựng cho hắn, để hắn ngồi lên chiếc ghế Đại tư mã.
Hồi 32
Đại chiến tiền tịch
Tạ Huyền tiễn Chu Tự đi rồi, lập tức cho gọi Lưu Dụ.
Lưu Dụ bước vào nội đường soái phủ, nhìn thấy chỉ có một mình Tạ Huyền ngồi trầm tư, không cầm được cảm giác vì được ưu ái mà lo sợ.
Chu Tự và Tạ Huyền đàm luận, tất có liên quan đến những tin tức tình báo về Phù Kiên hết sức trân quý, lẽ ra Tạ Huyền phải cùng Tạ Thạch và Tạ Diễm thương nghị, nếu cần tìm người bàn mưu tính kế, cũng phải là Lưu Lao Chi và Hà Khiêm, đâu đến tên phó tướng tép riu như mình.
Tạ Huyền ngước nhìn Lưu Dụ, thấy gã hoảng hoảng hốt hốt thi lễ trước mặt, mỉm cười nói: “Tiểu Dụ ngồi xuống”.
Lưu Dụ ngượng ngùng nói: “Mạt tướng muốn đứng thế này cho dễ chịu một chút”. Tạ Huyền tức cười nói: “Ta bảo ngồi xuống thì cứ ngồi xuống, thoải mái một chút đầu óc mới linh hoạt”.
Lưu Dụ ngồi xuống mé bên, thầm nghĩ Chu Tự vừa rồi cũng ngồi đúng ở chỗ này. Tạ Huyền trầm ngâm một lát, điềm đạm nói: “Chuyện ta phân phó, ngươi tiến hành được đến đâu rồi?”.
Lưu Dụ lập tức mặt mày hớn hở, hưng phấn nói: “Hiện tại ước tính đã làm được chừng hơn vạn bao đá vụn, mỗi bao nặng ba đến bốn chục cân, có thể buộc túm ở trên, nhìn từ bên kia sông rất khó phát giác. Tiểu tướng đã sai người bố trận nhiều phen diễn luyện, chỉ cần một tay giữ khiên mây, để chắn tên đạn của địch, tay kia thò ra phía sau mở dây buộc, bao đá sẽ dễ dàng tuột từ trên lưng xuống sông, bảo đảm thần không hay quỷ không biết”.
Tạ Huyền nhíu mày: “Mang thêm bao đá ba bốn chục cân, hành động thế nào cũng bị ảnh hưởng, bên Phù Kiên cao nhân không thiếu, dưới ánh sáng ban ngày, có thể qua tư thế di động của chúng ta mà coi ra manh mối”.
Lưu Dụ ngớ người nói: “Huyền soái phải chăng nghĩ đến việc tập kích vào ban đêm?”. Tạ Huyền hớn hở: “Trẻ con thật dễ dạy! Chu Tự quay về Thọ Dương gặp Phù Kiên, sẽ mạt sát ta mục hạ vô nhân, vì thắng mà sinh ra kiêu ngạo, không coi Phù Kiên vào đâu. Tạ
Huyền ta đã là loại người này, đương nhiên đêm nay không thể không động tĩnh gì, kiểu gì cũng phải có hành động để khoa trương khiêu khích một chút mới đúng. Nói đi, ngươi cần bao nhiêu người?”.
Lưu Dụ phấn khởi hùng tâm, cố nén hưng phấn, lúng búng nói: “Chuyện này quan hệ trọng đại, cần phải do Lưu tham quân hoặc Hà đại tướng chủ trì, hắc! Tiểu tướng...”.
Tạ Huyền mỉm cười: “Chính vì chuyện quan trọng, cho nên chúng ta tuyệt không thể để đối phương phát giác là chuyện quan trọng, do ngươi cầm quân là thỏa đáng nhất, để cho địch nhân cho đó chỉ là một hành động mang tính quấy rối”.
Lưu Dụ lại phấn khởi hùng tâm, biết Tạ Huyền muốn giành cho mình cơ hội lập công, từ lúc tiếp nhận nhiệm vụ trước đó do Tạ Huyền giao cho, gã đã vắt óc tìm cách thực hiện đến mức tận thiện tận mỹ, tự nghĩ bất kỳ người nào cũng không thể làm tốt hơn. Bèn không do dự, nói: “Mạt tướng chỉ cần ba nghìn bộ binh, chia ba đường vượt sông, mỗi tổ một ngàn người, lén lút mang ba cái thứ có thể lấp đầy lòng sông thêm mấy thước, để kỵ binh bên ta có thể tăng tốc vượt sông. Người của ta sẽ quỵ gối cúi người chỉ vừa đúng đến mặt nước. Trong đêm tối sẽ không lo bị đối phương phát giác. Sau khi làm xong, sẽ trải lên trên các bao đá một lớp bùn cát cùng cành lá khô, nếu từ trên bờ nhìn xuống sông, sẽ không phát hiện được có điểm khác thường”.
Tạ Huyền nói: “Ngươi nghĩ thật chu đáo, không phụ ta đã tin cậy ngươi, hoàn thành nhiệm vụ rồi, người của ngươi có thể về thành nghỉ ngơi, không cần tham dự đại chiến ngày mai, ta sẽ phái một cánh quân khác men theo bờ sông bố trận, ngăn đối phương vượt sông, có thể phát giác điều lạ”.
Lưu Dụ vội nói: “Xin cho thuộc hạ ngày mai theo sau ngựa Huyền soái”. Tạ Huyền cười ha hả: “Sao có thể thiếu phần ngươi được. Đi đi!”.
Lưu Dụ đi ra đầy bụng hoan hỉ, thầm nghĩ cái gọi là đàm tiếu dụng binh, chính là giống như sự điềm đạm ung dung của Tạ Huyền vậy, càng minh bạch khi sớm Tạ Huyền chúc chúng nhân đêm nay ngon giấc, vì chỉ có mình là một tiểu tốt qua sông đảm trách hành động vất vả đêm nay.
o0o
“Phanh!”.
Phù Kiên vỗ một chưởng vào lưng ghế, đột ngột giận dữ nói: “Tạ Huyền tiểu tử! Lại dám coi thường Phù Kiên ta, hay là đã chán sống rồi?”.
Chu Tự tay buông thõng, cung thân đứng trước mặt y, nét mặt phẫn uất nói: “Hắn đã thay đổi nhiều quá, bị tiêm nhiễm nặng nề thói hư tật xấu của nam phương thế gia đại tộc, mới thắng một trận nhỏ đã biến thành tự cao tự đại, mục hạ vô nhân, lại còn nói... ài!”.
Phù Kiên trao đổi ánh mắt với Phù Dung ngồi bên, dằn nộ hỏa, trầm giọng nói: “Chu khanh hãy thuật lại không sót một lời cho trẫm”.
Chu Tự nói: “Tạ Huyền lời lẽ điên rồ, nói sẽ tuyệt không để Thiên Vương còn sống trở về phương bắc, chỉ cần hắn cắt đứt đường tiếp tế giữa Biên Hoang Tập và Thọ Dương trấn, quân ta sẽ không quá ba ngày là hết lương thảo, lại muốn vi thần quy hàng hắn, vi thần đã dùng lời lẽ đàng hoàng từ chối”.
Phù Dung lạnh lùng nói: “Đó không hoàn toàn có thể coi là cuồng ngôn, chúng ta cần bố trí lại, bằng không không chừng lời hắn có thể thành sự thực”.
Chu Tự thầm nghĩ Phù Dung rõ ràng nắm chắc tình huống hiện thời hơn huynh trưởng của y nhiều, kế hoạch nguyên là một mặt vây khốn Thọ Dương, mặt khác dùng quân của Lương Thành phong tỏa đường sông, tiến lên áp chế Hạp Thạch thành. Hiện tại Thọ Dương không đánh mà được, nhưng lại là một tòa thành không, ngược lại còn phải tốn vào đấy rất nhiều quân tướng, tệ hơn nữa là quân Lương Thành bị thất bại, bình phong chướng ngại phía đông mất đi, đối phương có thể dùng thuyền mau lẹ vận chuyển binh lính, chặn đánh đường vận chuyển lương thảo thủy lục lưỡng lộ, cắt đứt liên lạc giữa Thọ Dương và Biên Hoang Tập. Hơn hai chục vạn người sẽ thiếu lương trầm trọng. Hiện tại lương thảo dự trữ ở Thọ Dương chỉ đủ chi dụng trong vài ngày, vì vậy Tạ Huyền dùng hư ngôn dọa dẫm mới có hiệu quả cao.
Sắc mặt Phù Kiên biến thành rất khó coi.
Chu Tự nói: “Đấy chỉ là một phần lời hắn nói, hắn còn nói ngày mai sẽ đưa quân vượt sông, đánh cho quân ta không còn một manh giáp”.
Phù Kiên không những không giận mà lại cười nói: “Đồ thỏ đế! Thực có đảm lượng đó sao”.
Phù Dung nhíu mày nói: “Tạ Huyền mà là người nóng nảy hấp tấp sao? Bên trong nhất định có điều giả trá”.
Chu Tự nói: “Theo vi thần thấy, Tạ Huyền đích thị dùng kế dương đông kích tây, tuy nhiên nếu để hắn tại bắc Hoài Thủy kiến lập cứ điểm, đúng là có thể cắt đứt liên hệ giữa
quân ta với Biên Hoang Tập, lại có thể cản trở quân ta lần nữa theo hạ du Hoài Thủy qua sông”.
Phù Dung gật đầu nói: “Chu tướng quân nói rất có lý, bất quá luận thực lực bên ta hơn bọn chúng nhiều, làm sao để chúng muốn làm gì thì làm”.
Chu Tự nói: “Nếu Tạ Huyền ngày mai dám vượt sông tấn công, chúng ta nên ứng phó thế nào?”.
Phù Kiên tàn nhẫn nói: “Vậy thì ta sẽ phải khiến cho hắn thây chìm đáy sông, không để một người nào sống sót trở về Hạp Thạch”.
Phù Dung thầm biết Phù Kiên hết sức căm giận Tạ Huyền, bất quá không dám khuyên Phù Kiên co cụm không ra, bằng không với hơn hai mươi vạn đại quân tung hoành phương bắc lần này nam chinh, mà lại không dám chính diện hoàn kích Bắc Phủ binh không đến mười vạn, chẳng những để cho thiên hạ chê cười, mà còn rất ảnh hưởng đến đại quân Đê Tần đã từng thất bại trận đầu.
Chu Tự còn đang muốn nói, bỗng nhiên một hồi trống trận ầm ầm từ mé bờ sông truyền lại.
Phù Kiên nổi giận bật dậy hét to: “Quả thực khinh ta không có người sao, Tạ Huyền tiểu tử! Phù Kiên ta nguyện khiến ngươi phải hối hận về từng câu nói”.
Phù Dung hoang mang đứng lên nói: “Thiên Vương xin chớ vì thứ người không biết trời cao đất dày ấy mà nổi giận, đệ coi đây chỉ là hành động hư trương thanh thế để gây nhiễu loạn thôi, để đệ ứng phó là được”.
Chu Tự vội cúi đầu xuống, không để hai người thấy thần sắc vui mừng ánh lên trong đáy mắt.
o0o
Yến Phi ngã ngồi xuống khoảnh đất trong rừng, thở hổn hển mấy hơi, toàn thân lạnh lẽo, rất đỗi khó nói có chỗ nào không ổn, chẳng biết cảm giác khó chịu gốc gác từ đâu.
Chàng nhớ lại hồi nãy Từ Đạo Phúc và Lư Tuần đối đáp với nhau, thầm kêu bất hảo. Chàng vì chuyện phải vội tới Hạp Thạch thành cảnh cáo Lưu Dụ, toàn lực phi thân, âm hàn chân khí của Nhậm Dao nhân cơ hội khuếch tán đến toàn thân kinh mạch, như vậy lại càng khó khu trừ, khiến hiện giờ chàng có cảm giác ghê ghê đáng sợ.
Trên đầu bầu trời đêm tinh đẩu giăng đầy, tráng lệ mê người.
Yến Phi lặng lẽ vận Nhật Nguyệt Lệ Thiên đại pháp, bên trong thân thể nhật nguyệt tương giao, một lát sau cảm giác giá lạnh từ từ thuyên giảm, tựa như đã phục nguyên, nhưng Yến Phi biết rõ đó chỉ là miễn cưỡng ép giảm nội thương, khoảng cách tới trạng thái chân chính hồi phục vẫn xa tít tắp.
Chàng là người thoải mái, không hề để tâm đến thương thế, thầm nghĩ nếu vận mệnh phải như thế, thì cũng vui vẻ nhận mệnh.
Trong thời khắc đêm đen tĩnh mịch này, tâm linh hết sức êm đềm. Từ lúc mới bắt đầu cuộc sống lưu lãng tới giờ, chàng chỉ toàn hưởng thụ cuộc sống cô đơn tịch mịch. Chỉ những có lúc một mình, chàng mới thể nghiệm rõ sự tồn tại của bản thân, cảm thấy tự bản thân cùng trời đất có những quan hệ vi diệu bí ẩn không cách gì hiểu thấu, có thể từ những góc độ mênh mông vô hạn mà trải nghiệm cuộc đời kỳ dị này.
Trong khi đại đa số mọi người trầm mê trong buồn vui tủi hận, tranh quyền đoạt lợi của thế gian, chàng lại vượt hẳn ra ngoài tất cả những cảm giác đó.
Sau khi giết chết Mộ Dung Văn, chàng trải qua một đoạn hồi ức bi ai sanh ra do luyến ái nam nữ, đau thương cùng cực, trốn khỏi Trường An, cuộc sống đang tràn ngập ánh dương quang đã lặng lẽ khuất dần trong bóng tối, đến tận khi Phù Kiên nam lai, tất cả mới thay đổi.
Nàng hiện tại có được sống khoái lạc hay không? Ở chốn sâu thẳm trong tâm hồn nàng, còn có hình bóng mình hay không?
Trước đây mỗi lúc tưởng nhớ tới nàng, trong tim lại dâng lên cuồn cuộn nỗi buồn thương mất mát không tên, nhưng trong thời khắc này, chàng chỉ là một cá thể cô độc bơ vơ, mơ về một thế giới thân thương bên ngoài trời đất, để gã trao trọn nỗi cô tịch của mình.
Cho dù thương nhớ khổ sở thì làm sao?
Tất cả đã không thể vãn hồi được hiện thực rắn như sắt thép.
Yến Phi rất muốn như thế không gì thay đổi: không gì dính dáng đến mình, vĩnh viễn không cần ly khai, cùng với thiên địa vạn vật hòa thành một khối. Nhưng lại biết bản thân mình đã bị cuốn sâu vào dòng xoáy của thời đại, hoàn toàn không thể duy trì tác phong hành sự coi mọi chuyện không liên quan gì đến mình xưa nay nữa.
Bèn thở dài, chậm rãi đứng lên, tiếp tục hành trình về phía nam.
o0o
Tạ Huyền đứng sừng sững trên đầu tường Hạp Thạch thành, chăm chú quan sát tình hình bên đối ngạn, cuộc vượt sông dạ tập chỉ vừa mới bắt đầu sôi động, địch nhân xuất động gần vạn bộ binh, dùng cung tên bắn chặn quân lính đang vượt qua sông.
Trước khi bỏ Thọ Dương, Tạ Huyền đã lệnh cho Hồ Bân dọc theo Phì Thủy xây dựng các công sự phòng ngự, lũy đá, đường hào tránh tên, vọng gác, khi bên địch mới lấy được Thọ Dương, mọi việc còn chưa ổn định, Tạ Huyền đã đem nhiều tiễn thủ và máy bắn đá bố trí tại những vị trí trọng yếu bên đông ngạn, vì vậy đến lúc này Phì Thủy vẫn hoàn toàn bị khống chế bởi Bắc Phủ binh, chỉ có họ mới có thể vượt sông công kích, bên Phù Kiên chỉ có thể bị động chống trả.
Đương nhiên sau khi Tần binh đã ổn định thế trận, có thể bằng binh lực áp đảo tranh chấp quyền thao túng Phì Thủy, tuy nhiên tuyệt không phải là đêm nay, cũng không phải chuyện ngày mai.
Khoảng cách hai ba mươi trượng mặt nước biến thành yếu tố quan trọng quyết định thắng phụ.
Lưu Dụ tiểu tử này quả thực tiền đồ vô hạn lượng, chỉ coi gã chỉ huy dạ tập, tuy biết rõ chỉ là hư trương thanh thế mà vẫn không chút tùy tiện, tiến hành công phu, tiến công thoái thủ đều rất có pháp độ.
Ba hàng quân đầu đều mang khiên mây, dưới sự yểm hộ của máy bắn đá và xạ tiễn từ phía đông ngạn, xông lên quá giữa sông, từng hàng từng hàng nhất tề từ phía sau khiên mây nhằm lên cao xạ tiễn, tuy xen lẫn có thương vong, vẫn khiến địch nhân tổn thất khá nặng.
Binh lính lưng mang bao đá theo mệnh lệnh vượt sông, dưới sự che chắn của tấm thuẫn bài tiến hành nhiệm vụ, những người quen thủy tính lặn xuống đáy, di chuyển bao đá đến những vị trí thích hợp, nhất thiết lặng lẽ mà làm.
Một cánh quân khác từ chỗ khác vượt sông tiến công, khiến địch nhân không phát hiện được quân mình đang âm thầm tiến hành công việc.
Nhưng những suy tưởng trong đầu Tạ Huyền lại không liên quan gì đến trận chiến trước mắt.
Ông vừa nhận được bồ câu đưa thư từ Kiến Khang, biết tin về cái chết của Hoàn Xung, lại ngủ không được, bèn lên tường thành quan chiến.
Từng cơn gió lạnh từ tây bắc ào ào thổi tới, tay áo bay tung, càng thể nghiệm hơn gian khổ của chiến sĩ đang vượt sông.
Hoàn Xung là người ông tôn kính nhất ngoài Tạ An, nếu không có ông ta giúp Tạ An, Nam Tấn không thể có cục diện hưng thịnh nhất kể từ khi nam độ tới nay.
Con người chí công vô tư ấy, cuối cùng lại nhằm đúng thời khắc không thích hợp nhất nhắm mắt ra đi mãi, đối với đại Tấn mà nói, là một tổn thất không gì bù đắp nổi. Thực tại quả thật cũng hơi quá trùng hợp.
Em trai Hoàn Xung là Hoàn Huyền, lại đặc biệt là người mà ông và Tạ An cố kỵ nhất, người này chẳng những kiếm pháp cái thế, mà còn là thống soái tung hoành vô địch, tài dụng binh của hắn, chỉ sợ còn hơn Hoàn Xung.
Bốn năm trước, khi Chu Tự binh bại đầu hàng, Tương Dương thất thủ, Hoàn Xung đã dùng Hoàn Huyền làm phó soái, phát động phản kích, mang mười vạn quân Kinh Châu, chia ra nhiều đường. Hoàn Huyền công Tương Dương, Lưu Ba công các thành mạn bắc, Dương Lượng công Thục, Quách Thuyên công Võ Đương. Quân Kinh Châu hạ nhiều thành trì, chấn động phương bắc, hoàn toàn nhờ Mộ Dung Thùy, Diêu Trường cố chết giữ được Tương Dương.
Chuyện này trực tiếp thúc đẩy cuộc chiến nam chinh của Phù Kiên, nếu để Tương Dương trở lại vào tay quân Kinh Châu, Phù Kiên sẽ không có cách nào kềm chế quân Kinh Châu anh dũng thiện chiến, lại có Hoàn Huyền và Hoàn Xung tài năng siêu trác lãnh đạo.
Trong chiến dịch này, Hoàn Huyền đã biểu hiện đầy đủ tài năng thống soái của y, trở thành một viên đại tướng trẻ duy nhất có thể cùng Tạ Huyền ông đàm luận các vấn đề.
Hoàn Huyền trường kỳ tương trợ thân huynh xử lý quân chính Kinh Châu, lại có ý chiêu nạp thế tộc hào môn bản địa, với thế lực ở Kinh Châu thâm căn cố đế, đối với triều đình ở Kiến Khang Dương Châu có tâm ý muốn bài xích, nếu không có Hoàn Xung ra sức giúp đỡ triều đình, Kinh, Dương đã sớm có nội loạn.
Hiện tại Hoàn Xung đã mất, cây đại thụ đã ngã xuống, nhất định khó mà duy trì tương quan cũ. Kinh, Dương phân hay hợp, hoàn toàn do nhất niệm của Hoàn Huyền, Hoàn Huyền đã trở thành nguyên nhân của họa hoạn trong tương lai.
Quan hệ Kinh Dương tan vỡ, tạo điều kiện cho Tôn Ân với căn cứ địa ở Hải Nam có cơ hội thừa nước đục thả câu, chỉ cần coi Lư Tuần dám cả gan hành thích Hồ Bân, có thể thấy Thiên Sư đạo với thế lực hùng mạnh không để Nam triều trong mắt.
Cho dù trận này thắng lợi, đánh lui Phù Kiên, tương lai vẫn là thù trong giặc ngoài, không thể lạc quan được.
Tâm trí Tạ Huyền lại quay về địch quân cách sông đối kháng.
Trận chiến này thành hay bại, cũng ở đại chiến ngày mai quyết định. Nếu Phù Kiên án binh bất động, tử thủ ở Thọ Dương, ông coi như thua trận này, cũng như thua mất luôn giang sơn Nam Tấn.
Bất quá ông cảm thấy rõ Phù Kiên tuyệt không chịu co đầu rụt cổ, chưa nói chuyện ông mượn tay Chu Tự thi hành kế khích tướng, mà chủ yếu do tâm tính người Hồ hiếu võ và coi trọng sĩ diện.
Phù Kiên mang đại quân nam lai, thực lực gấp bội Bắc Phủ binh, trận đầu đã thất lợi, đại tổn uy phong, nếu lại ở cái vùng Phì Thủy nhỏ bé để cho Bắc Phủ binh dọa khiếp không dám nghênh chiến thì uy danh để đâu? Phù Kiên không thể không ứng chiến, vì y so với mình lòng cầu thắng còn mạnh hơn nhiều, huống chi chỉ cần Phù Kiên tranh được bình thủ, y cũng đã có thể vãn hồi sĩ khí Đê Tần quân.
Lưu Lao Chi lúc này cũng trèo lên thành lâu, tiến đến bên, vui mừng nói: “Tiểu tử Lưu Dụ này xác thực là một nhân tài khó gặp”.
Tạ Huyền không đáp lời hắn trực tiếp, vừa nói vừa cười: “Lao Chi ngủ không được sao?”.
Lưu Lao Chi cười khổ: “Kiểu nào cũng không nhắm mắt được”.
Trong Bắc Phủ quân, Tạ Huyền là người duy nhất hắn có thể dốc bầu tâm sự, nói năng thoải mái, hắn đối với ông tuyệt đối tín nhiệm, tuyệt đối sùng kính.
Tạ Huyền bỗng nhiên thay đổi đề tài, nói: “Chu Tự chỉ có một yêu cầu sau khi thành sự, ngươi bảo là chuyện gì nào?”.
Lưu Lao Chi ngạc nhiên, gượng suy nghĩ một lúc, lắc đầu nói: “Thứ cho Lao Chi ngu xuẩn”.
Tạ Huyền để lộ thần tình cay đắng, chậm rãi nói: “Yêu cầu của ông ta là được giải trừ quân tịch, cho làm thứ dân”.
Từ thời Tam Quốc trở lại, chiến sự liên miên, gia đình binh lính thảy đều vì kẻ thống trị đổ máu hy sinh, gánh vác lao dịch đủ thứ, người nhà cũng không ngoại lệ. Nếu một khi đã bị ghi vào quân tịch, muốn được trở lại làm thường dân cũng khó như lên trời. Binh lính ở tầng lớp dưới lại càng “làm lính sống thời khốn khổ, không được ấm no, chết đi thời hài cốt bị vứt bỏ không ai đưa về”, thậm chí có người còn bị thượng cấp vì tiền tài hại mệnh, “kẻ lại binh1 nhà giàu, cũng là kẻ giết người vì tài vật”, hay là “thâu thì đủ, cấp thì dối, sức thì bị vắt kiệt, y phục thì thiếu thốn, dùng thì đến nơi đến chốn, ăn thì tiết kiệm, liên miên đông qua hè tới, bệnh tật khổ đau càng nhiều, chết nơi ngòi rãnh mười phần có đến bảy tám, 'vì thế' lính thú khổ cực, lòng không quên loạn”.
Như Chu Tự thuộc hàng danh môn đại tướng, đương nhiên không lo bị bóc lột, mà chính là sợ triều đình khắc bạc vô ơn, điểu tận cung tàng. Chính vì vậy Lưu Lao Chi nghe yêu cầu của Chu Tự, cũng bất giác sinh cảm khái như vật thương đồng loại.
Chu Tự lần này lập đại công, bèn thừa cơ yêu cầu miễn trừ quân tịch, đúng là một hành động không kém sáng suốt.
Tạ Huyền trầm giọng nói: “Lao Chi tiến cử Tiểu Dụ, ta rất đồng ý, tiểu tử này thực sự là trời sinh để làm quân nhân, chỉ có ở trong quân mới giống như cá gặp nước, đấy chính là bất đồng giữa gã với ta, nếu không giống như chọn lựa của ta, ta sẽ trở về hẻm Ô Y sống một cuộc đời phong lưu với thơ và rượu. Câu chuyện này chỉ hạn chế giữa ta và ngươi biết. Ta không tiện trực tiếp dìu dắt Lưu Dụ, mọi việc giao ngươi phụ trách, tương lai gã nhất định sẽ giúp được ngươi rất nhiều. Ta không muốn gã vì ta mà bị trong quân hoặc triều đình bài xích đố kỵ”.
Lưu Lao Chi hiểu rõ, gật đầu đáp ứng.
Tạ Huyền nhìn sang bờ đối diện, điềm đạm nói: “Ngày mai là cơ hội duy nhất để chúng ta chiến thắng Phù Kiên, vì vậy chỉ có thẳng tiến không lui, đặt sinh tử ra ngoài”.
Lưu Lao Chi gật đầu khẳng định: “Hiện tại địch nhân thế trận chưa ổn, lương thảo thiếu thốn, lại thêm trận đầu thất bại, sĩ khí suy giảm, đường xa mỏi mệt, xa rời quê hương, người ngựa kiệt sức, sức chiến đấu giảm sút cùng kiệt, nếu ngày mai không nắm được thời cơ ngàn năm này, từ sau trở đi tình thế sẽ khác hẳn”.
Tạ Huyền lộ ra một nét cười đầy tự tin nói: “Bất chấp Phù Kiên có tài nhảy nhót ra sao, cũng không thể qua khỏi bàn tay ta được. Ngày mai sẽ là ngày tàn của Đê Tần bọn hắn, chúng ta phải sẵn sàng đối phó những phản ứng sau khi binh bại của bọn chúng, ngàn vạn không được để lỡ mất cơ hội tốt”.
Từ Phì Thủy những tiếng hô sát vẫn vang lên đây đó, trống trận ầm ầm, dấy động những âm hưởng trong khúc dạo đầu của một trường đại quyết chiến.
Chú thích:
1- Chức quan nhỏ trong quân.