View Single Post
  #6  
Old 12-12-2012, 12:32 AM
Helen's Avatar
Helen Helen is offline
Super Moderator
 
Tham gia ngày: Jan 2007
Bài gởi: 3,082
neww Tiếng gọi nơi hoang dã - Chương 6

Chương 6

Vì tình yêu thương đối với một con người


Khi John Thornton bị cóng liệt chân hồi tháng chạp vừa qua, bạn phường của anh đã sắp xếp cho anh chỗ nghỉ ngơi thoải mái và để anh ở lại chờ hồi phục, còn họ cứ tiếp tục ngược dòng sông để kiếm 1 bè gỗ sẽ đưa đi Dawson bán. Vào lúc Thornton cứu Buck, anh vẫn còn hơi khấp khiễng, nhưng nhờ thời tiết tiếp tục ấm áp, nay anh đã khỏi hẳn.

Và tại nơi đây, nằm cạnh bờ sông qua suốt những ngày xuân dài, dõi theo dòng nước chảy, nhàn nhã lắng nghe tiếng chim hót và tiếng rì rầm của thiên nhiên, Buck dần lấy lại được sức lực.

Thật không còn gì bằng được nghỉ ngơi sau 1 cuộc hành trình những 3000 dặm, và cũng phải thú thật là Buck đã đâm ra lười nhác trong khi những vết thương của nó kín miệng dần, các cơ bắp nở ra và thịt lại đẩy lên che kín xương cốt nó. Nói cho đúng ra, tất cả đều ngồi dưng chả làm gì – Buck, John Thornton, Skeet và Nig – trong khi chờ chiếc bè đến chở họ xuôi dòng đi Dawson. Skeet là 1 con chó săn lông xù nhỏ nhắn gấc Ailen, đã sớm đánh bạn với Buck vào lúc Buck đang trong tình trạng dở sống dở chết không còn hơi sức nào cự lại những động tác làm thân ban đầu của cô ả. Cô nàng Skeet có cái nét đặc sắc của thầy thuốc mà người ta thường thấy ở 1 số con chó. Giống như 1 con mèo mẹ liếm lông cho con, cô nàng đã liếm và làm sạch những vết thương của Buck. Theo 1 nếp đều đặn, mỗi buổi sáng sau khi Buck ăn xong, cô nàng lại thực hiện cái nhiệm vụ mà cô nàng đã tự giao cho mình, cho đến khi Buck quen đi đâm ra mong ngóng sự chăm sóc của Skeet chả khác gì mong ngóng sự chăm sóc của Thornton vậy. Còn Nig, 1 con chó đen to lớn, là giống chó dò thú, lai chó săn Xcôtlen, có đôi mắt tươi cười và tính tình dễ thương vô hạn, cũng thân mật với Buck như Skeet mặc dù không bộc lộ bằng.

Điểm làm cho Buck phải ngạc nhiên là những con chó này không tỏ ra ghen tị với Buck chút nào. Chúng hình như cùng chia sẻ lòng tốt và sự rộng lượng của John Thornton. Khi Buck đã cứng cáp lên, chúng lôi kéo nó vào đủ loại trò chơi ngộ nghĩnh mà chính Thornton cũng lao vào tham gia không nhịn được. Cứ như vậy, Buck vượt qua 1 cách dễ dàng thời kỳ hồi phục và bước vào 1 cuộc sống mới.

Tình yêu thương, 1 tình yêu thương thực sự và nồng nàn, lần đầu tiên phát sinh ra bên trong nó. Trước kia nó chưa hề cảm thấy 1 tình yêu thương như vậy lúc ở tại nhà Thẩm phán Miller giữa thung lũng Santa Clara mơn man ánh nắng. Với những cậu con trai của ông Thẩm, trong những buổi đi săn hoặc đi lang thang đây đó, tình cảm của Buck chỉ là thứ tình bạn làm ăn cùng hội cùng phường. Với những đứa cháu nhỏ của ông Thẩm, đó là 1 thứ trách nhiệm hộ vệ trong niềm kiêu hãnh tự cao tự đại. Còn đối với bản thân ông Thẩm thì đó là thứ tình bạn trịnh trọng và đường hoàng. Nhưng, tình thương yêu sôi nổi, nồng cháy, thương yêu đến mức tôn thờ, thương yêu đến cuồng nhiệt, thì phải đến John Thornton mới khơi dậy lên được trong lòng Buck.

Con người này đã cứu sống nó, đó là 1 lẽ; nhưng hơn thế nữa, con người này là 1 ông chủ lý tưởng. Những người khác trông nom chó của họ xuất phát từ 1 ý thức về nghĩa vụ và về lợi ích, kinh doanh; còn John Thornton thì chăm sóc chó của mình như thể chúng là con cái của anh vậy, là bởi vì anh không thể nào dừng được. Và anh còn chăm sóc nhiều hơn nữa kia. Anh không bao giờ quên chào chúng bằng 1 cử chỉ thân ái hoặc 1 lời hớn hở. Ngồi xuống nói chuyện lâu với chúng (mà anh gọi là “tầm phào”) là điều mà cả anh và chúng đều thích thú. Anh có cái thói quen túm chặt lấy đầu Buck rồi dựa đầu anh vào đầu nó, hoặc lắc nó đảo qua đảo lại, vừa lắc vừa khe khẽ thốt lên những tiếng rủa mà đối với nó lại là những lời nói nựng âu yếm. Buck thấy không có gì vui sướng bằng được cái ôm ghì mạnh mẽ ấy và những tiếng rủa rủ rỉ bên tai ấy, và theo mỗi cái lắc đảo qua đảo lại, nó tưởng chừng như quả tim mình muốn nhảy tung ra khỏi lồng ngực vì quá ngây ngất rạo rực. Khi được buông ra, nó bật dậy đứng thẳng lên, miệng cười, mắt hùng hồn diễn cảm, họng rung lên những âm thanh không thốt nên lời, và cứ như vậy trong tư thế đứng yên bất động. Những lúc ấy John Thornton lại kêu lên, trân trọng: “Trời đất! Mày hầu như biết nói đấy!”

Buck có 1 kiểu biểu lộ tình thương yêu gần giống như làm đau người ta. Nó thường hay há miệng ra cắn lấy tay Thornton rồi ép răng xuống mạnh đến nỗi vết răng hằn vào da thịt 1 lúc sau mới mất. Và cũng như Buck hiểu những tiếng rủa là những lời nói nựng, con người cũng hiểu cái cắn vờ ấy là 1 cử chỉ âu yếm yêu thương.

Tuy nhiên, tình thương yêu của Buck phần lớn được diễn đạt bằng sự tôn thờ. Mặc dù nó sung sướng đến cuồng lên mỗi khi Thornton vuốt ve hoặc nói chuyện với nó, nó không săn đón những biểu hiện tình cảm đó. Buck khác với Skeet mà cũng khác với Nig, Skeet có thói quen thọc cái mũi của nó vào dưới bàn tay của Thornton rồi hích, hích mãi cho đến khi được vỗ về. Nig thì thường hiên ngang bước tới rồi tựa cái đầu to lớn của nó lên đầu gối của Thornton. Còn Buck thì bằng lòng với việc đứng cách 1 quãng mà tôn thờ anh. Nó thường nằm phục ở chân Thornton hàng giờ, mắt hau háu, tỉnh táo linh lợi, ngước nhìn thẳng vào mặt anh, chăm chú vào đấy, xem xét kỹ nét mặt, theo dõi với 1 mối quan tâm đặc biệt từng biểu hiện thoáng qua, mọi cử động hoặc đổi thay trên thần sắc. Hoặc, cũng có lúc do tình cờ, nó nằm xa ra hơn, về 1 bên hoặc đằng sau anh, quan sát hình dáng của anh và dõi theo những cử động từng lúc của con người anh. Và thường thường, do mối giao cảm giữa chó và người, sức mạnh của cái nhìn của Buck làm cho John Thornton quay đầu sang, và nhìn trở lại nó không nói năng gì, nhưng đôi mắt anh tỏa rạng linh cảm tự đáy lòng, trong khi tình cảm của Buck cũng ánh ngời lên qua đôi mắt nó.

Trong 1 thời gian dài sau khi được cứu sống, Buck không muốn rời Thornton ra 1 bước. Từ lúc anh bước ra khỏi lán cho đến lúc anh lại trở vào đấy, khi nào Buck cũng bám gót anh. Việc thay thầy đổi chủ xoành xoạch kể từ khi nó vào vùng đất phương Bắc đã làm nảy sinh ra trong lòng nó nỗi lo sợ không có người chủ nào có thể gắn bó lâu dài cả. Nó sợ Thornton cũng lại biến khỏi cuộc đời của nó như Perrault và Francois và anh chàng người lai Xcôtlen đã đi qua rồi biến mất trước đây. Ngay cả ban đêm, trong giấc mơ, nó cũng bị nỗi lo sợ này ám ảnh. Những lúc ấy nó vội vùng dậy không ngủ nữa, trườn qua giá lạnh đến tận mép chiếc lều, rồi đứng ở đấy lắng tai nghe tiếng thở đều đều của chủ.

Nhưng mặc dù Buck mang mối tình cảm sâu nặng như vậy đối với John Thornton – mà điều này hình như chứng tỏ ảnh hưởng hiền hòa của sự văn minh hóa – nhưng huyết thống của nguyên thủy mà vùng đất phương Bắc đã khơi dậy bên trong nó, vẫn tồn tại và sống động. Nó vẫn có sự trung thành và lòng tận tụy, những đức tính nảy sinh ra từ bếp lửa và mái nhà; thế nhưng nó còn giữ lại bản tính man rợ và quỷ quyệt. Nó là 1 vật của hoang dã, từ cõi hoang dã đến đây ngồi cạnh bếp lửa của John Thornton, đúng hơn là 1 con chó của vùng đất phương Nam dịu dàng mang dấu ấn của bao nhiêu thế hệ văn minh. Do tình thương yêu sâu nặng của nó, nó không thể nào đánh cắp của con người này, nhưng đối với bất kỳ người nào khác, tại bất kỳ khu vực lán trại nào khác, nó đã không hề ngần ngại 1 giây phút nào, trong khi nó lại đủ khôn ranh để xoáy trộm mà không bị phát hiện.

Mặt mũi và thân mình nó đầy vết răng của nhiều con chó. Nó vẫn đánh nhau dữ tợn như trước và lại có nhiều mưu mẹo hơn. Skeet và Nig thì lành nết quá nên không phải là đối tượng để gây chuyện – hơn nữa, chúng lại là của John Thornton. Nhưng bất cứ con chó lạ nào, dù thuộc nòi gì hoặc dũng mãnh đến đâu đi nữa, đều phải nhanh chóng thừa nhận quyền uy tối cao của Buck, nếu không sẽ buộc phải giao tranh 1 mất 1 còn với 1 đối thủ ghê gớm. Và Buck không hề thương hại. Nó đã học được sâu sắc luật của dùi cui và răng nanh, và nó không bao giờ từ bỏ 1 lợi thế hoặc lùi bước trước 1 kẻ thù mà nó đã đẩy vào con đường dẫn đến cõi của Thần Chết. Nó đã học được những bài học ở Spitz và ở những con chó chiến đấu đầu đàn của cảnh sát và ngành bưu điện, nó biết được là không có con đường trung dung. Nó phải thống trị hoặc bị thống trị: mà tỏ lòng thương hại là dấu hiệu của sự mềm yếu. Lòng thương hại không tồn tại trong cuộc sống nguyên thủy. Lòng thương hại dễ bị hiểu lầm là sự sợ hãi, mà những thứ hiểu lầm như vậy dẫn đến cái chết. Giết hoặc bị giết, ăn thịt hoặc bị ăn thịt, đó là quy luật; và đối với mệnh lệnh ấy, truyền xuống đến nó từ những nơi sâu thẳm của thời gian, nó đã tuân theo.

Nó già đời hơn số những năm tháng mà nó đã trái qua và số những hơi thở của lồng ngực nó. Nó là mối dây nối liền quá khứ với hiện tại và cõi vĩnh cửu ngàn xưa phía đằng sau nó vẫn rộn ràng truyền qua nó 1 nhịp đập đầy uy lực mà nó dao động hòa theo, giống như sóng triều lên xuống và 4 mùa tuần hoàn vẫn bằng dao động. Nó ngồi cạnh bếp lửa của John Thornton, nó đấy, con chó ức nở rộng, nanh trắng, và lông mao dài rậm: nhưng đằng sau nó là bóng dáng của 1 loại chó, nửa sói hoang, hoặc sói hoang chính cống như thúc giục, như nhắc nhở, thưởng thức mùi vị miếng thịt nó ăn, thèm khát hớp nước nó uống, cùng nó đành hơi làn gió, cùng nó lắng tai nghe và mách cho nó xác định những tiếng động của sự sống hoang vu trong rừng thẳm, chỉ đạo tâm tính của nó, điều khiển hành vi của nó, cùng nằm xuống ngủ với nó khi nó nằm xuống, cùng mơ với nó và mơ còn xa hơn về kiếp sau của nó, và bản thân chúng còn trở thành những hình ảnh hiện lên ngay trong giấc mơ của nó.

Những bóng dáng hiển hiện ấy đã ra hiệu, vẫy gọi nó với 1 sức mạnh bức bách đến nỗi ngày trôi qua, loài người và những đòi hỏi của loài người cứ tuột ra xa khỏi nó. Từ 1 nơi sâu thẳm trong rừng hoang, 1 tiếng gọi thường cất lên, xốn xang và quyến rũ 1 cách huyền bí. Và do nó luôn luôn nghe thấy cái tiếng gọi đó, nó cảm thấy buộc phải quay lưng lại ngọn lửa của con người và nền đất đã được chân người nện chặt ở chung quanh, để lao vào rừng sâu, và cứ lao tới, lao tới tới nơi nào và tại sao như vậy nó cũng không biết nữa. Mà nó cũng không tự hỏi là từ nơi nào và tại sao tiếng gọi kia lại đang vang lên khẩn thiết như vậy, ở đâu đó sâu thẳm trong rừng hoang. Nhưng những khi nó chạy ra đến nơi đất hoang còn mềm chưa ai đặt chân tới dưới bóng rừng xanh, thì tình yêu thương đối với John Thornton lại kéo nó trở lui về bên bếp lửa.

Chỉ vì mỗi 1 mình Thornton mà nó còn ở lại. Toàn bộ những kẻ khác của loài người không còn ý nghĩa gì. Những du khách ngẫu nhiên gặp nó có thể ngợi khen hoặc vỗ về nó, nhưng đối với tất cả những điều đó nó đều lạnh lùng, và khi gặp phải 1 người quá vồ vập quấn quít thì nó thường đứng dậy và bỏ đi. Khi những bạn phường của Thornton là Hans và Pete đưa chiếc bè lâu nay mong đợi đến nơi này, Buck phớt lờ họ cho đến khi nó biết được là họ thân cận với Thornton; khi đó nó mới chịu khoan thứ với họ theo 1 kiểu thụ động chấp nhận những sự chiếu cố của họ như thể chính vì nó chiếu cố họ và chấp nhận đấy thôi. Họ cũng thuộc loại người rộng lượng hào phóng như Thornton, sống sát với thực tế, suy nghĩ đơn giản nhưng đầu óc sáng suốt, minh mẫn. Và qua 1 thực tế thời gian, trước khi họ lái chiếc bè gỗ ngoặt vào vũng nước xoáy lớn bên cạnh nhà máy cưa ở Dawson, họ đã hiểu được Buck và tính nết của nó, nên họ không cố đòi Buck phải thân thiết với họ như Skeet hay Nig.

Tuy nhiên, đối với Thornton, tình yêu thương của nó hình như cứ ngày càng tăng lên, tăng lên mãi. Trong những con người, duy nhất chỉ có anh là có thể đặt được 1 túi hành lý trên lưng Buck trong cuộc hành trình ngày hè. Khi Thornton ra lệnh thì không có công việc gì là quá khó khăn đối với Buck. Một hôm (sau khi họ đã kiếm được 1 số lương thực và vốn liếng nhờ bán chiếc bè gỗ và rời Dawson ngược nguồn sông Tanana), người và chó đang ngồi trên chỏm 1 vách đá dựng đứng bên 1 cái vực sâu đến 300 bộ, đáy vực là nền đá trần trụi, John Thornton ngồi gần mép vực, Buck tựa vào vai anh, Thornton chợt nảy ra 1 ý nghĩ nông nổi, anh lưu ý Hans và Pete hãy xem anh thử 1 điều vừa thoáng qua trong óc:

- Nhảy đi, Buck! – anh vung tay ra trên vực sâu, ra lệnh.

Trong khoảnh khắc, anh đã phải ôm ghì lấy Buck ở mép đá cheo leo trong khi Hans và Pete đang gò người kéo cả anh và Buck trở lui vào nơi an toàn.

- Thật là dại dột! – Pete thốt lên, sau khi sự việc đã xong xuôi và họ đã hoàn hồn.

Thornton lắc đầu:

- Không! Thật là tuyệt vời, mà cũng thật là khủng khiếp. Các cậu có biết không, đôi khi nó làm cho tớ phát sợ.

- Vô phúc cho kẻ nào dám chạm vào anh trong khi nó ở quanh quẩn bên anh. Tôi thì chả dám – Pete tuyên bố như để kết luận, hất đầu chỉ về phía Buck.

- Lạy Chúa! – Hans góp thêm ý mình – Cả tôi nữa tôi cũng chả dám.

Chính tại thị trấn Circle, vào 1 ngày cuối năm, điều lo sợ đó của Pete đã được thực tế chứng minh là đúng. Burton “Đen”, 1 con người xấu tính và hiểm độc, đang gây sự với 1 anh chàng mới đến lạ nước lạ cái ở bên quầy bán rượu, thì Thornton bước vào giữa 2 người, ôn tồn can ngăn. Buck, theo thói quen đang nằm trong 1 góc phòng, đầu đặt trên 2 chân, đưa mắt theo dõi từng cử chỉ của chủ, Burton chẳng nói chẳng rằng, giáng bốp ngay 1 quả vào mặt Thornton. Anh lảo đảo, suýt nữa thì ngã vật xuống nếu không kịp bấu vào song sắt của quầy rượu.

Những người đứng đấy chứng kiến sự việc lúc bấy giờ bỗng nghe 1 tiếng không phải là tiếng sủa, cũng không phải là tiếng ré, mà đúng hơn là 1 tiếng gầm, và họ nhìn thấy thân hình của Buck từ nền nhà bay lên lao vút qua không trung, nhằm thẳng vào cổ họng Burton phóng tới. Tên này thoát chết nhờ hắn kịp vung cánh tay ra theo bản năng, nhưng bị hất nhào và đằng sau ngã ngửa ra sàn nhà, Buck đè lên người hắn. Buck nhả cánh tay của hắn ra rồi lại nhè vào họng hắn mà cắn. Lần này hắn chỉ che đỡ được phần nào, và họng của hắn bị xé toạc. Đám đông vội xô vào Buck và đánh đuổi nó ra. Nhưng khi 1 viên thầy thuốc băng bó vết thương cho Burton, Buck cứ quanh quẩn lượn tới lượn lui, gầm rít hung tợn, cứ chực xông vào, nhưng bị 1 loạt những chiếc dùi cui thù địch đẩy lùi. Một “cuộc hội ý của những người khai mỏ” được triệu tập ngay tại chỗ, đã phán xử rằng cuộc tấn công của con chó có lý do chính đáng, vì bị khiêu khích đến mức phải phản ứng, và Buck được tha miễn.

Ấy thế là Buck bắt đầu nổi tiếng, và từ hôm đó tên tuổi của Buck được truyền tụng từ trại này sang trại khác khắp vùng Alaska.

Sau sự việc ấy, vào mùa thu năm đó, Buck lại có 1 hành động theo cách thức khác, cứu sống được John Thornton. Một hôm 3 người bạn phường đang dòng 1 chiếc thuyền thoi xuôi 1 đoạn thác ghềnh hiểm trở trên nhánh sông 40 Dặm. Hans và Pete men theo bờ, dùng 1 chiếc dây thừng nhỏ bện bằng dây chuối sợi buộc neo thuyền từ gốc cây này sang gốc cây khác, còn Thornton thì đứng trên vừa chống vừa hò hét chỉ dẫn cho người trên bờ. Buck ở trên bờ lo lắng bồn chồn, tiến lên theo ngang với chiếc thuyền, đôi mắt không bao giờ rời khỏi chủ.

Đến 1 nơi đặc biệt hiểm trở vì 1 gò đá ngầm mấp mé mặt nước nhô ra ngoài sông. Hans tháo dây néo ra khỏi cây, và trong khi Thornton chống thuyền tránh ra giữa dòng. Hans dọc theo bờ chạy xuống phía dưới, tay nắm chặt đầu dây để sắn sàng néo lại khi nào thuyền vượt qua khỏi gờ đá. Vào lúc con thuyền đã vượt qua được và đang băng băng lao xuống theo 1 luồng nước chảy xiết. Hans níu dây kìm thuyền lại, nhưng anh kìm quá đột ngột. Chiếc thuyền giật mạnh rồi lật úp, bị lôi vào bờ ngửa bụng lên trời, còn Thornton thì văng ra khỏi thuyền và bị nước cuốn xuôi về phía nguy hiểm nhất của dòng thác, nơi có vùng nước cuộn dữ dội mà không có kẻ nào có thể thoát chết được.

Ngay lập tức Buck lao xuống dòng nước. Bơi được 300 mã, giữa vùng nước xoáy điên cuồng, Buck đuổi kịp Thornton. Khi nó cảm thấy anh đã nắm được đuôi nó, Buck nhằm thẳng vào bờ bơi vào với tất cả sức lực tuyệt vời của nó. Nhưng sự chuyển động tiến vào bờ thì chậm, mà sự chuyển động xuôi dòng thì lại nhanh lạ lùng. Từ bên dưới vọng lên tiếng gầm rít ghê người ở nơi mà dòng nước điên cuồng xoáy cuộc càng dữ dội và bị xé nát vụn ra tung tóe thành bụi nước giữa những mỏm đá lô nhô thọc qua như những chiếc răng của 1 cái lược khổng lồ; sức hút của nước khi bắt đầu đổ xuống đoạn dốc cuối cùng thật là khủng khiếp, và Thornton biết rằng bơi vào bờ là 1 điều không thể nào thực hiện nổi. Anh vật lộn quyết liệt để bám vào 1 tảng đá, nhưng bị trượt, sượt qua 1 tảng đá thứ 2, rồi đâm sầm vào 1 tảng thứ 3 như bị giáng 1 đòn búa tạ. Anh buông Buck ra, dùng cả 2 tay bíu chặt lấy cái chỏm trơn tuột của tảng đá, và thét to đè át tiếng gầm của luồng nước cuộn tung tóe: “Vào bờ đi, Buck! Đi đi!”.

Buck không thể nào trụ lại nổi, nó bị cuốn theo dòng nước, vật lộn 1 cách tuyệt vọng nhưng không tài nào quay lại được. Khi nó nghe tiếng Thornton nhắc lại mệnh lệnh, nó chồm 1 phần thân mình lên khỏi mặt nước, cất cao đầu như để nhìn anh lần cuối, rồi ngoan ngoãn quay vào bờ. Nó bơi mãnh liệt, và được Pete cùng Hans kéo vào bờ đúng ngay tại nơi không còn có thể bơi tiếp được nữa mà chỉ có đâm đầu vào cõi hủy diệt.

Pete và Hans biết là thời gian 1 con người có thể bám vào 1 tảng đá trơn trước 1 sức nước cuốn mạnh như vậy chỉ còn tính từng phút, nên họ dốc hết sức chạy thật nhanh ngược lên phía trên, đến 1 chỗ cách xa nơi Thornton đang bám trụ. Họ dùng chiếc gậy mà họ vừa néo thuyền lúc nãy buộc vào cổ và vai Buck cẩn thận tránh không để sợi dây làm nghẹt cổ Buck và làm nó vướng khi bơi, rồi tung nó xuống dòng nước. Buck dũng cảm lao vút ra, nhưng tiếc thay không ra thật đúng thẳng giữa dòng. Khi nó thấy ra được sai lầm của mình thì đã quá muộn, vị trí của Thornton đã nằm ngang với nó, cách nó ít nhất là sáu nhịp hơi, trong khi nó bị tiếp tục cuốn trôi qua không làm sao lại cưỡng lại được.

Hans nhanh chóng néo sợi dây, như thể Buck là 1 chiếc thuyền vậy. Do sợi dây kéo căng ra níu nó lại giữa dòng nước đang cuộn ào xuống, nên nó bị giúi mạnh xuống dưới mặt nước, và cứ thế bị nhận chìm nghỉm cho đến khi thân mình nó húc vào bờ và được kéo lên. Buck gần như chết đuối, và Hans cùng Pete vội lao vào cứu nó, làm hô hấp nhân tạo và dốc cho nước chảy ra. Nó loạng choạng đứng dậy rồi lại ngã xuống. Vừa lúc ấy, tiếng kêu của Thornton vẳng đến tai họ. Mặc dù họ không nghe ra được Thornton đang nói gì, nhưng họ biết là anh đã kiệt sức. Tiếng gọi của chủ tác động đến Buck như 1 luồng điện giật. Nó bật dậy và chạy trước 2 người, ngược bờ sông lên đến điểm xuất phát của nó lúc nãy.

Lần nữa, sợi dây lại được buộc vào, nó được tung xuống nước, và nó lại lao vút ra. Nhưng lần này nó lao ra đúng thẳng giữa dòng. Nó đã tính nhầm 1 lần, nay quyết không phạm sai lầm lần thứ 2. Hans thả dây cố giữ không để cho dây chùng, còn Pete thì cố đảm bảo cho đến khi nó ra tới 1 điểm chiếu xuống Thornton theo 1 đường thẳng; lúc đó nó mới ngoặc xuống, và với tốc độ của 1 con tàu tốc hành, nó lao thẳng vào anh. Thornton nhìn thấy nó lao đến, và khi thân Buck đâm sầm vào anh như 1 cái chuỳ phá thành, với toàn bộ sức mạnh của luồng nước xô đằng sau nó, anh vội vờ tới và quẳng cả 2 tay ôm chặt lấy cái cổ xồm xoàm của nó. Hans néo sợi dây vào 1 thân cây. Buck cùng Thornton liền bị giúi mạnh xuống dưới mặt nước. Cổ họng nghẹn tắc, ngạt thở, lộn lên lộn xuống giúi giụi, khi thì Buck nằm đè lên trên, khi thì Thornton nằm đè lên trên, cả 2 bị kéo xệt dưới đáy sông lởm chởm, thân thể bị va đập vào những tảng đá và những gốc cây gẫy, và cuối cùng được kéo lên bờ.

Thornton hồi tỉnh thấy mình đang được đặt nằm sấp vắt ngang lên 1 khúc gỗ trên bờ, và Hans cùng Pete đang kéo cò cưa người anh, đẩy lui đẩy tới cật lực. Anh lập tức nhìn sang phía Buck. Bên thân hình mền rũ và có vẻ như không còn sự sống của Buck, Nig đang đứng tru dài, còn Skeet thì đang liếm bộ mặt ướt sũng và đôi mắt nhắm nghiền của Buck. Bản thân Thornton cũng bị những vết thương thâm tím vì bị va đập mạnh. Khi Buck được cứu cho tỉnh lại, Thornton cẩn thận sờ nắn khắp mình nó thì tìm thấy 3 xương sườn bị gẫy.

- Thôi, không cần phải bàn nữa – anh tuyên bố – Chúng ta cắm trại ngay tại đây.

Và thế là họ ở lại đó, chờ cho đến khi xương của Buck liền lại và nó có thể lên đường được.

Mùa đông năm ấy, tại Dawson, Buck lại lập nên 1 kỳ công khác, có lẽ không được anh hùng như vậy, nhưng là 1 kỳ công đã tôn tên tuổi của Buck lên thêm nhiều nấc trên cột tôtem lưu truyền danh tiếng giữa miền Alaska. Kỳ công đặc biệt làm hài lòng 3 người bởi vì nhờ nó mà họ sắm được những thứ đồ lề họ đang cần, nhờ nó họ có thể mở 1 cuộc hành trình họ hằng ao ước từ lâu: đi vào miền Đông hoang vu, nơi những người khai mỏ vàng chưa bao giờ bén mảng tới. Sự kiện ấy đã bắt đầu từ 1 buổi chuyện trò tại quán rượu Eldorado, giữa lúc những người ngồi đấy đang bốc lên huyên hoang khoác lác về những con chó cưng của họ, Buck, do những thành tích của nó, trở thành mục tiêu của mọi người, và Thornton bị dồn vào chỗ phải nói cứng để bảo vệ cho thanh danh của Buck. Sau nửa tiếng sôi nổi, 1 người tuyên bố là con chó của ông ta có thể khởi động 1 chiếc xe trượt tuyết chở 500 pao hàng và kéo nó đi được; 1 người thứ 2 khoe là chó của mình có thể làm được như vậy với 1 chiếc xe chở 600 pao; và 1 người thứ 3, 700 pao.

- Mèng! Mèng! – John Thornton nói – Buck có thể khởi động 1000 pao.

- Chuyển dịch được xe? Và kéo đi được 100 mã? – Mátthinxơn, 1 tay cự phú cỡ bự, kẻ vừa khoe chó mình kéo được 700 pao, hỏi vặn Thornton.

- Đúng! Chuyển dịch được xe, và kéo đi được 100 mã. – John Thornton điềm tĩnh đáp lại.

- Được rồi! – Matthewson nói chậm rãi khoan thai cốt để cho mọi người nghe rõ – Đánh cuộc 1000 đôla là nó không làm như vậy được. Tiền đây!

Nói đoạn, gã ném phịch xuống mặt quầy rượu 1 túi vàng cốm lớn bằng 1 cái xúc xích bologna.

Không ai hé răng nói nửa lời. Sự phét lác của Thornton, nếu quả là phét lác, đã bị thách đấu. Anh cảm thấy máu dồn lên mặt nóng bừng. Cái lưỡi của anh đã chơi xỏ anh rồi. Anh không hề biết là liệu Buck có thể khởi động được 1000 pao hay không. Những nửa tấn! Khối lượng khổng lồ đó làm anh kinh hoảng. Anh vốn rất tin vào sức lực của Buck và đã thường nghĩ là Buck có thể khởi động được 1 khối nặng như thế. Nhưng chưa bao giờ như lúc này, anh bị đặt vào tình thế phải suy xét giữa khả năng và hiện thực, trước những con mắt của hơn chục con người chằm chằm nhìn anh, yên lặng và chờ đợi. Hơn nữa, anh không có 1000 đôla, Hans và Pete cũng chẳng có.

- Tôi có 1 chiếc xe trượt tuyết đang nằm ngoài kia, chở đúng 20 bao bột mì mỗi bao 50 pao – Matthewson nói tiếp với thái độ thẳng thừng đến tàn nhẫn – Vậy xin mời cứ tự nhiên cho!

Thornton không trả lời. Anh biết nói thế nào bây giờ? Anh đảo mắt nhìn qua hết bộ mặt này đến bộ mặt khác với cái vẻ ngơ ngác của 1 người đã mất khả năng suy nghĩ và đang tìm kiếm ở đâu đó 1 điều gì có thể giúp phục hồi lại khả năng ấy. Đôi mắt anh chợt bắt gặp bộ mặt của Jim O’Brien, cũng là 1 phú ông giàu sụ và là bạn cũ của anh. Bộ mặt ấy như 1 tín hiệu đối với anh, nó như kích động anh phấn chấn làm cái điều mà lẽ ra anh không hề bao giờ mơ tưởng có thể làm được.

- Anh có thể cho tôi vay 1000 được không? – Anh hỏi, hầu như thầm thì.

- Được lắm chứ! – O’Brien trả lời và đặt mạnh xuống quầy 1 cái túi nặng chứa ngàn đôla có dư bên cạnh cái túi của Matthewson – Mặc dù tớ chẳng tin mấy là con vật có thể làm được cái trò ấy, John ạ!

Khách khứa trong quán Eldorado đổ hết ra đường xem cuộc thử thách. Các bàn rượu vắng tanh, những người ham mê cờ bạc và những tay ga bạc đều ùa cả ra để xem kết cục ra sao và để đánh cuộc với nhau. Mấy trăm con người trong những bộ áo lông và găng tay dày cộm xúm đông xúm đỏ quanh chiếc xe trượt tuyết, cách xe 1 quãng vừa phải để có thể nhìn thoải mái. Chiếc xe trượt của Matthewson chở 1000 pao bột đã đứng đấy từ vài giờ rồi, và trong cái lạnh ghê gớm (lúc này là 60 độ âm) các càng xe đã bị gắn chặt vào lớp băng tuyết đông cứng. Người ta đánh cuộc 2 ăn 1 rằng Buck không thể nào làm cho xe nhúc nhích được. Một câu hỏi hắc búa được đặt ra về chữ “chuyển dịch”. O’Brien cho rằng Thornton được quyền phá cho càng trượt bung ra khỏi băng tuyết, rồi để cho Buck “chuyển dịch chiếc xe” từ vị trí đứng yên. Nhưng Matthewson thì cứ khăng khăng là chữ “chuyển dịch” bao hàm cả việc làm sao cho càng xe bung ra được khỏi lớp băng tuyết gắn chặt vào nó. Đa số những người chứng kiến việc thách đố lúc này đều ủng hộ ý kiến của Matthewson, và do đó liền đánh cuộc lập tức tăng lên 3 ăn 1, cho rằng Buck sẽ thất bại.

Không người nào dám nhận đánh cuộc tin rằng Buck có thể làm được kỳ công đó, Thornton bị ép nhận cuộc 1 cách vội vàng, lòng anh trĩu nặng mối hoài nghi; và bây giờ đây lúc anh tận mắt nhìn vào chính chiếc xe trượt ấy, cái sự vật cụ thể rành rành, với 1 đàn chó kéo xe 10 con (số lượng theo thường lệ) đang nằm co tròn trên mặt tuyết phía trước xe, anh lại càng thấy là công việc này có vẻ không thể làm nổi. Còn Matthewson thì càng trở nên hớn hở.

- Ba ăn một đây! – gã tuyên bố – Này Thornton tôi đặt cược thêm 1000 đôla thách 3 ăn 1. Ý anh thế nào?

Mối hoài nghi của Thornton lộ rõ trên nét mặt, nhưng tinh thần tranh đấu của anh đang được khuấy động – cái tinh thần tranh đấu bất chấp mọi sự chênh lệch, không hề cam chịu bó tay trước điều không thể làm nổi, và không thèm để tai đến gì ngoài tiếng la hét xung trận, anh gọi Hans và Pete đến bên anh. Các túi tiền của họ đều lép kẹp, và cùng với cái túi của anh, cả 3 chỉ góp lại được có 200 đôla. Giữa lúc họ lâm vào tình cảnh khó khăn, tất cả vốn liếng của họ chỉ còn có bấy nhiêu; ấy thế nhưng họ dốc tuột ra không 1 chút do dự, đặt cược với 600 đôla của Matthewson.

Người ta tháo đàn chó 10 con ra khỏi chiếc xe, và đưa Buck trong bộ đai cương của nó vào thay thế. Không khí kích động xung quanh đã lây sang cả Buck, và nó cảm thấy là nó sẽ phải làm như thế nào đó để thực hiện được 1 điều rất lớn lao của John Thornton. Hình dáng tuyệt vời của Buck vừa xuất hiện thì những tiếng rì rầm thán phục nổi lên trong đám đông. Thể trạng của Buck đang giữa lúc hoàn hảo, không có lấy 1 lạng thịt thừa nào, và toàn bộ 150 pao trọng lượng của nó là bấy nhiêu pao can trường và sức mạnh. Bộ lông dày của nó sáng bóng lên ánh mượt mà của tơ lụa. Dọc cổ và trên đôi vai, lớp lông bờm của nó tuy đang lúc nằm yên nhưng vẫn hơi nghểnh lên chênh chếch, và hình như cứ dựng đứng lên theo mỗi cử động của thân mình nó, như thể là sức lực thừa ứ của nó đã làm cho từng sợi lông riêng lẻ đều có sự sống và tính năng động. Tấm ức rộng và đôi chân trước vạm vỡ không to quá khổ mà thật là cân đối với phần còn lại của toàn thân, và trên cơ thể Buck những bắp thịt nổi lên thành từng cuộn bó chặt hằn rõ dưới làn da. Người ta đưa tay sờ nắn thử các cơ bắp ấy rồi kháo nhau là nó rắn như sắt, và thế là nước bạc đặt cược tụt xuống 2 ăn 1.

- Ch-chà-chà, t-tuyệt quá, thưa ngài! T-tuyệt quá! – bên tai Thornton lập cập tiếng nói lắp của 1 gã cóc vàng thuộc nhóm phú ông mới phất lên gần đây nhất (nhóm Skookum Benches) – Ng-ngài để lại cho tôi con ch-chó, tôi x-xin nộp ngài 800, th-thưa ngài, ngay trước khi vào cuộc thử thách, thưa ngài! T-tám trăm ngay khi nó còn đứng đấy, th-thưa ngài.

Thornton lắc đầu, anh bước đến bên cạnh Buck:

- Ông đứng xa ra nhé! – Matthewson phản đối – Cuộc thi tự lực, không ai nhúng vào, thiếu gì nơi đứng.

Đám đông im bặt. Chỉ còn có tiếng những gã máu mê rao đánh cuộc 2 ăn 1 nhưng chả ai hưởng ứng. Mọi người thừa nhận Buck là 1 con vật tuyệt vời, nhưng 20 bao bột, mỗi bao 50 pao, lù lù ra đó thành 1 đống quá lớn trước mặt họ, khiến họ không dám thò tay cởi hầu bao.

Thornton quỳ xuống bên Buck. Anh giữ đầu Buck giữa 2 bàn tay anh và kề má anh vào má nó. Anh không lắc nó theo lối đùa nghịch như hướng lệ, hoặc nhỏ nhẻ rủa yêu nó, mà anh thì thầm vào tai nó:

- Đã thương ta thì cố lên, Buck! Hãy vì ta, cố lên!

Buck rên lên ư ử, với giọng háo hức nén lại trong cổ họng.

Đám đông tò mò ngắm nhìn theo dõi. Sự việc đang trở thành bí ẩn. Có vẻ như 1 sự phù phép. Khi Thornton đứng lên, Buck ngoạm lấy bàn tay đeo găng của anh, từ từ cắn vào rồi nhả dần, có phần không muốn rời ra. Đó là sự đáp lại, không phải bằng lời, mà bằng tình cảm thương yêu, Thornton lùi hẳn ra xa.

- Nào, Buck! – anh nói.

Buck kéo căng bộ dây cương, rồi lại thả chúng ra khoảng vài inch. Đó là cách thức mà nó đã được huấn luyện.

- Gee! – tiếng Thornton vang lên sắc nhọn, xói vào bầu không khí im lặng căng thẳng.

Buck đâm bổ sang bên phải, kết thúc động tác bằng 1 cái chúi mạnh căng hẳn phần chùng của dây cương, và cả sức nặng 150 pao của nó bổ nhào tới bị chặn sững lại thành 1 cú thúc mạnh đột ngột. Đống hàng đồ sộ rung động, và từ bên dưới đôi càng trượt phát ra tiếng rạn nứt tanh tách.

- Haw! – Thornton lại ra lệnh.

Buck lặp lại động tác như cũ, nhưng lần này sang bên trái. Tiếng rạn nứt chuyển thành tiếng gẫy răng rắc chiếc xe trượt tuyết xoay tại chỗ và đôi càng xe nghiến kèn kẹt trượt đi mấy inch về 1 bên. Chiếc xe đã bung ra được khỏi băng giá. Mọi người chăm chú theo dõi, hoàn toàn không hay biết là mình đang nín thở.

- Nào! MUSH!

Lệnh của Thornton phát ra đanh như 1 phát súng lục. Buck lao bổ về đằng trước, những sợi dây cương bị giật tới đột ngột rung động mạnh và căng thẳng. Sức mạnh toàn thân Buck thu hết lại thành 1 khối rắn chắc trong 1 nỗ lực ghê gớm ấy. Các bắp thịt cuộn lên và nổi thành nút như những vật có sự sống. Nó rạp xuống thấp, đầu nó vươn về phía trước và cúi xuống, trong khi 4 chân cào bới như điên như cuồng, những vuốt sắc rạch trên lớp băng tuyết đông cứng thành những vạch song song.

Chiếc xe trượt tuyết lắc lư và rung chuyển, gần như di dịch được về phía trước. Bỗng 1 chân Buck bị trượt và có tiếng ai đó rú lên lo lắng. Nhưng rồi chiếc xe lảo đảo dịch tới, nhích dần theo 1 loạt những cái giật nhanh liên tiếp, dường như không bao giờ dừng lại. Nửa inch… 1 inch… 2 inch… Những cái giật giảm đi trông thấy khi xe đã lấy được đà. Buck bắt kịp từng cái giật để dấn tới vượt qua, cho đến khi chiếc xe lướt đều tiến lên phía trước theo 1 đà trượt vững chắc không còn giật nữa.

Người đứng xem thở hắt 1 cái mạnh và bắt đầu lấy lại hơi thở bình thường, không nhận thấy là trong những phút vừa qua họ đã ngừng thở. Thornton chạy theo sau xe, khích lệ Buck bằng những tiếng ngắn, hân hoan. Khoảng cách đã được đo sẵn, và khi Buck tiến đến gần đống củi đánh dấu cái đích của đoạn đường 100 mã, thì tiếng reo hò cổ vũ nổi lên mạnh dần, mạnh dần, rồi phá lên thành 1 tiếng hoan hô như sấm dậy khi Buck vượt qua đống củi và dừng lại theo mệnh lệnh. Mọi người nhẩy cẫng lên vì khoái chí, ngay cả Matthewson cũng vậy Người ta tung mũ và găng tay lên trời. Người ta bắt tay nhau, bắt tay với bất kỳ ai không cần phân biệt và nháo nhác trao đổi với nhau những cân hoan hỉ rộn lên thành 1 mớ tiếng nói hỗn độn chả đâu vào đâu.

Trong khi đó thì Thornton quỳ xuống bên cạnh Buck. Đầu anh áp vào đầu nó, anh lắc mình nó đảo qua đảo lại. Những người chạy vội lên đến bên anh nghe thấy tiếng anh rủa Buck, anh rủa rất lâu và rất nồng nàn, rủa với giọng dịu dàng và thương yêu.

- Ôi! Tuyệt quá! Tuyệt quá, thưa ngài! – lại tiếng nói lắp bắp của tay cóc vàng Skookum Benches bên tai anh – Tôi xin nộp ngài 1000, ngài để nó cho tôi thưa ngài, 1000, thưa ngài, 1200, thưa ngài.

Thornton đứng dậy. Đôi mắt anh ướt đầm. Những giọt nước ứa ra, không cần giấu giếm, chảy ròng ròng xuống má anh.

- Thưa ngài! – anh nói với gã phú ông – Không được đâu, thưa ngài! Xin ngài hãy bước đi cho rảnh. Tôi chỉ có thể đáp lại ngài như vậy thôi, thưa ngài!

Buck ngoạm lấy bàn tay của Thornton, Thornton lắc mình nó đảo lui đảo tới. Những người đứng nhìn, như cùng chia sẻ niềm vui chung sôi nổi, đã lùi ra xa 1 quãng, tỏ vẻ tôn trọng, họ giữ ý không còn ai khiếm nhã cắt ngang 1 lần nữa những giây phút ân tình giữa anh với Buck.
__________________
Trả Lời Với Trích Dẫn