View Single Post
  #2  
Old 05-17-2010, 07:12 PM
TT_LưuLyTím_TT's Avatar
TT_LưuLyTím_TT TT_LưuLyTím_TT is offline
 
Tham gia ngày: Mar 2004
Bài gởi: 7,757
Default

"Phòng trung thuật"
(Thuật nối dõi của đế vương)
triều đại nhà Hán, vào đầu thời kỳ phong kiến của Trung Quốc, các quy phạm xã hội đều tương đối lỏng lẻo, và trong lĩnh vực tình dục còn sót lại một số phong tục thời nguyên thủy, như ở một vài vùng còn lưu giữ những phong tục "tân khách tương ngộ, dĩ phụ đãi túc" (có khách tới gặp, đem vợ bồi khách ngủ lại đêm) hoặc "cộng thê, cộng phụ" (chung vợ, chung chồng). Chồng chết tái giá tại triều đại nhà Hán chuyện này cũng thường tình.
Bên cạnh đó, cũng đáng nêu ra đây rằng vào đời nhà Hán, Trung Quốc có phát triển ra một khoa học tình dục rất hoàn toàn đầy đủ, gọi là "Phòng trung thuật" hay "nghệ thuật trong phòng ngủ".
Như tên gọi Phòng trung thuật có nghĩa là kỹ thuật trong phòng the. Theo nghĩa hẹp nó có ý nói đến những kỹ xảo về tình dục; theo nghĩa rộng nó là quan niệm về tình dục của Trung Quốc cổ đại.
Những công trình sớm nhất có liên quan tới Phòng trung thuật là những cuốn sách nói về vấn đề này viết từ đời Tây Hán trên lụa và trên thanh tre (trúc giản thư), như những sách có liên quan tới thuật trong phòng: "Thập vấn" (Hỏi mười điều), "Hợp âm dương", "Thiên hạ chí đạo đàm"... (Hội hợp âm và dương), (Bàn về nghệ thuật lớn nhất trong thiên hạ), v.v... Những sách này sau khi khai quật được vào năm 1973, đã cổ động một phong trào sôi nổi đi nghiên cứu Phòng trung thuật.
Vào quãng thời kỳ Đông Hán, kỹ thuật trong phòng của Trung Quốc đã thịnh hành một cách khác thường. Giáo sư Lý Phong Mậu ở Hệ Trung văn trường đại học chính trị phát biểu: Sự hưng thịnh của phòng trung thuật có quan hệ tới đế vương, nó là một thứ thuật kế vị của đế vương. Ông chỉ rõ, đời nhà Hán các đế vương đa số đều đoản mệnh, tạo nên gây nguy cơ cho sự nối nghiệp của các vua. Chính vì thế tăng cường quá nhiều hậu cung, từ đó những phương sĩ (ngự y) đề xuất các loại phương pháp dùng trong phòng nhằm giúp nhà vua sinh được con cái khỏe mạnh và tăng cường sức lực của họ.
Nội dung của Phòng trung thuật bao gồm những mục tuổi nào thích hợp với hôn nhân và quan hệ giữa tuổi tác với số lượng động phòng, kỹ xảo tình dục, tư thế, phản ứng tình dục của người phụ nữ, thụ thai, kiêng kî, phép chữa trị những trở ngại chức năng tình dục, thảo dược, v.v... có thể nói đây là một môn khoa học về tình dục của Trung Quốc đời xưa.
Phòng trung thuật còn có tên "Ngự nữ thuật" (thuật dùng người nữ), lý luận chủ yếu của nó là "thái âm bổ dương" (dùng âm để tăng cường cho dương), dạy người nam cố sức làm cho người nữ đạt tới điểm cực khoái khi giao hợp, sao cho hấp thụ được âm khí của người nữ phóng ra vào điểm cực khoái, do đó đạt được công hiệu dưỡng sinh và trường thọ. Nhà Hán học Hà Lan Van Gulik mô tả cái thuật thái bổ không đồng đều này, gọi đó là "tính trá thủ" (sự lừa lấy trong tình dục)
Lý Phong Mậu vạch rõ cho ta thấy Phòng trung thuật nguyên là một phương pháp dưỡng sinh "nam nữ song tụ" (mà cả nam cũng như nữ cần phải thi hành), do đó cũng như có "thái âm để bổ dương" thì cũng có những trường hợp "thái dương để bổ âm" nhưng không thể phủ nhận quyền truyền bá thời cổ đại nằm trong tay nam giới, tất nhiên cái ý "thái âm bổ dương" đã trở thành lấn lướt.
Phòng trung thuật nhấn mạnh rằng việc giao hợp với người phụ nữ càng nhiều càng tốt, nhưng điều quan trọng là không nên phóng tinh. Truyền thuyết "vua Hoàng Đế nằm với 1000 người nữ mà trở thành tiên" ông Bành Tổ cũng nhân vì thái bổ dưỡng sinh mà sống tới 800 tuổi.
Nhằm mục đích làm cho nữ giới đạt tới điểm cực khoái lúc giao hợp, do đó sách phòng trung phân tích thật cặn kẽ phản ứng tình dục của nữ giới . Tác giả Tăng Dương Tinh, người từng nghiên cứu Phòng trung thuật nhiều năm, bảo thí dụ thuật này phân chia một lần động phòng ra mười giai đoạn, lợi dụng vị giác, khứu giác, xúc giác để quan sát phản ứng của người nữ với độ chính xác cao.
Sau đời Tống, nền lý học hưng thịnh lên, Phòng trung thuật bị áp chế. Có một bộ phận truyền tới Nhật, người Nhật gọi nó là "Y tâm phương" (Phương pháp điều trị tim).
Triều đại nhà Đường tự do và phóng túng
Có câu nói "Tảng Đường lạn Hán" (đời Đường bẩn thỉu, đời Hán hủ bại). Lưu Đạt Lâm tin rằng câu nói đó phản ánh mức độ tự do tình dục của hai thời đó được thịnh hành biết mấy.
Triều Đường(618-907 sau Công nguyên) là triều mà quan niệm tình dục trong lịch sử Trung Quốc tự do bậc nhất và hợp với tính người nhất. Lưu Đạt Lâm chỉ rõ triều Đường thịnh hành việc phụ nữ mặc những quần áo phô một phần ngực và việc ly hôn cải giá cũng tương đối tự do. Chẳng hạn 23 công chúa đời Đường ly hôn rồi tái giá, một vài người cải giá tới ba lần. Cả con gái nhà nho Hàn Dũ cũng ly hôn và tái giá.
Trong lịch sử Trung Quốc triều đại nhà Đường cũng là triều đại mà địa vị người phụ nữ tương đối cao. Người phụ nữ không chỉ không bị đặt dưới cái giới luật "đại môn bất xuất, nhị môn bất mại" (Cửa lớn không ra, cửa thứ hai không vượt) mà còn có thể cưỡi ngựa ra ngoài dạo chơi !
Nghiên cứu nguyên nhân mở rộng quan niệm tình dục của triều đại nhà Đường cuốn "Văn hóa tình dục Trung Quốc thời xưa" của Lưu Đạt Lâm nhận dạng một vài nhân tố chủ yếu. Thoạt đầu đó là thời kỳ cực thịnh của xã hội phong kiến, và là thời phồn vinh lớn mạnh; kẻ thống trị nó có lòng tin và lực lượng dư dật và do đó hoàn toàn phóng khoáng và không thành kiến. Thứ hai, kẻ nào "no ấm nghĩ tới dâm dục", có một thời kỳ dài triều Đường hưởng cảnh thiên hạ thái bình thịnh trị, mọi người có thừa sức đi tìm khoái lạc và hưởng thụ. Ngoài ra, triều Đường là một thời đại dung hợp dân tộc với Hán tộc Hồ Bắc. Những giao tiếp với các nước "man di" chắc chắn đã ít nhiều dẫn tới một vài thay đổi trong lễ giáo, quan niệm tình dục và những môn thuộc loại đó.
Đứng về góc độ văn học mà nhận xét, đời Đường có những bài thơ diễm tình mô tả tình yêu trai gái, tình phòng khuê; những "tiểu thuyết truyền kỳ" ca tụng tình yêu, bộc lộ những điều vớ vẩn về tình dục, như: "Truyện Hoắc tiểu Ngọc", "Truyện uyên ương", "Truyện Lý Oa", v.v. đều phản ánh đầy đủ bộ mặt của xã hội đương thời.
Những ràng buộc về thân thể và tinh thần
Triều Tống là thời kỳ chế độ phong kiến từ thịnh chuyển thành suy, cũng là thời kỳ chuyển từ sự phóng túng sang sự áp chế tình dục. Từ đó trở đi Trung Quốc bắt đầu tám, chín trăm năm kềm chế tình dục.
Triều Tống suy nhược và vô tích sự, nhiều phen bị ngoại tộc xâm chiếm quấy nhiễu, ngoài ra còn chịu nỗi sỉ nhục lớn là hai vua Huy, Khâm bị nước Kim bắt làm tù binh; để tăng cường lực lượng thống trị, tại các mặt quân, chính, tư pháp, những kẻ thống trị tập trung quyền thực thi cao độ.
Trong thời kỳ này môn lý học của Trình - Chu hưng thịnh (lý học, còn được gọi là môn học về nguyên lý). Cái mớ học thuyết bảo thủ đó phù hợp với bọn thống trị của thời kỳ suy bại, bọn chúng muốn khống chế thái độ và tâm tư của người dân một cách nghiêm ngặt, và như vậy mớ học thuyết này bị bọn thống trị nắm lấy và vận dụng, và có một ảnh hưởng tới xã hội từ ngày đó trở đi.
Lý học chủ trương "tồn thiên lý, diệt nhân dục" (duy trì mặt trật tự của thiên nhiên và tiêu diệt những ham muốn của con người). Môn đồ của học thuyết này tin rằng "một khi con người làm điều bất thiện là do bị sự ham muốn dụ dỗ" ("nhân vi bất thiện, dục dụ chi dã"). Do đó, chỉ có cấm tuyệt đối con người nghĩ tới lòng dục thì mới có thể đẩy mạnh được trật tự của thiên nhiên.
Quan niệm về sự trinh tiết của phụ nữ bắt đầu bị cường điệu hóa. Thời trước đó chồng chết cải giá là chuyện rất bình thường. Từ triều Tống trở về sau, cải giá bị coi như "thất tiết", không được xã hội đương thời dung thứ. Những truyện như "Quả phụ đoạn tý" (gái góa chặt cánh tay sau khi tình cờ bị một người đàn ông chạm phải), "Nhũ thương bất y" (Ngực bị thương bỏ mặc không chữa, vì phụ nữ để phô ngực ra cho thầy thuốc nhìn còn tệ hơn là chết) được dùng làm gương mẫu và tuyên dương rộng rãi. Câu nói "Nga tử sự tiểu, thất tiết sự đại" (Chết đói là chuyện nhỏ, thất tiết mới là chuyện lớn) được coi là danh ngôn chí lý.
Ngoài những ràng buộc về mặt tinh thần, phụ nữ đời Tống còn bị một ràng buộc lên thân thể, đó là tục bó chân.
Tục bó chân của người phụ nữ Trung Quốc xét cho cùng bắt đầu từ đời Ngũ đại, cuối đời Đường hay đời Bắc Tống? Mọi người còn phân vân. Điều có thể xác minh được là, đến đời Tống thì "tam thốn kim liên dĩ thành mỹ nữ" (ba tấc sen vàng đã thành người đẹp) đã thành cần thiết để trở thành tiêu chuẩn cho cái đẹp của người phụ nữ. Bàn chân xinh của phụ nữ đã trở thành một bộ phận thân thiết nhất, có sức hấp dẫn nhất trong cơ thể họ. Trong cuốn "Sinh hoạt tình dục tại Trung Quốc đời xưa" của ông, Robert Van Gulik kể lại trong những bức tranh xuân cung (cung mùa xuân = dâm ô) từ đời Tống trở đi, phụ nữ được phô bày hoàn toàn khỏa thân, nhưng ông đã không hề thấy một bức tranh nào trong đó chân họ lại không bó vải. Do đó ta có thể thấy những đôi chân bó là một cái gì thần bí và cấm kî, chúng khiến cho người ta tưởng tượng xa vời.
Có người bảo: bó chân sẽ làm cho thịt ở âm bộ người nữ béo và đầy, bắp thịt ở lưng thêm tính đàn hồi hơn. Cái ý đó đã bị chứng minh là chuyện vô căn cứ. Chẳng qua bó chân chỉ chìa ra ngón cái để làm cho cân bằng, đung đưa hông không kém phần khêu gợi như những chiếc giày cao gót ngày nay.






Anh em họ Điền
Ngày xưa, có giòng họ Điền, anh em ăn ở với nhau từ đời nọ sang đời kia rất là hòa thuận. Về sau, họ này chỉ còn lại có ba anh em. Ba người vẫn chung sống với nhau vui vẻ tử tế, cho đến khi người thứ hai lấy vợ. Người vợ tính tình ích kỷ, lại hay sinh sự, lắm lời, nên không khí trong gia đình không còn được như xưa. Rồi một hôm người vợ nhất quyết đòi chia gia tài của ba anh em và bắt ép chồng đi ở riêng. Người chồng ban đầu nghĩ tình anh em bấy lâu sum họp mà không nỡ chia lìa, song rồi vì người vợ ngày đêm cằn nhằn khó chịu, kiếm chuyện gây gỗ trong nhà, nên rồi cũng đành phải nghe theo vợ, nói với anh em đi ở riêng. Người anh cả khuyên can không được cũng đành phải chia của cải cha mẹ để lại ra làm ba phần đều nhau. Chỉ còn một cây cổ thụ trước nhà, cành lá sum sê xanh tốt, chưa biết làm cách nào để chia cho đều. Ba anh em cùng nghĩ ngợi, rồi sau cùng quyết định gọi thợ về hạ cây xuống, cưa xẻ thành ván để chia làm ba phần.

Đến hôm định hạ cây xuống, buổi sáng ba anh em ra vườn thì thấy cây cổ thụ đã khô héo tự bao giờ. Người anh cả bèn ôm lấy cây mà khóc nức nở. Hai người em thấy vậy mới bảo anh:
"Một thân cây khô héo, giá phỏng là bao mà anh phải thương tiếc như thế"?
Người anh cả đáp lại rằng: "Có phải anh khóc vì tiếc cây đâu. Song nghĩ vì loài cây cỏ vô tri nghe thấy sắp phải chia lìa mà còn biết buồn phiền khô héo đi, huống gì chúng ta đây là người cùng ruột thịt. Anh thấy cây mà suy đến cảnh ba anh em chúng ta, anh mới phải khóc".
Nghe anh nói, hai người em hiểu ý, đưa mắt nhìn nhau rồi cùng òa khóc. Người vợ xúi chồng đi ở riêng nghe thấy vậy, cũng rơm rớm nước mắt, đâm ra hối hận, cúi đầu xin lỗi hai anh em và thề không bao giờ còn tính đến việc chia lìa nhau nữa.
Từ hôm đó, ba anh em ở lại với nhau êm ấm, vui vẻ như trước.
Cây cổ thụ nọ đã khô héo cũng trở lại xanh tươi như cũ.
Trả Lời Với Trích Dẫn