MauuTimmToiiYeuu
10-13-2004, 03:20 AM
Cô Gái Quá Giang
Chuyện ma xin quá giang xảy ra không riêng gì tại một quốc gia nào. Nhiều tài liệu thu thập đuợc từ những chứng nhân ở nhiều quốc gia khác nhau. Họ là những nguời đã thấy rõ hồn ma và cũng chính họ đã cho những ma đó ði một đoạn đuờng.
Tại Việt Nam, không hiếm truờng hợp đã xảy ra. Một vài thí cụ điển hình mà chúng tôi xin luợc kể ra đây là những truờng hợp hoàn toàn có thật do các nhân chứng trong cuộc kể lại.
Ông Trùm Mày, nhà ở Nam Giao, Huế, chuyên nghề chạy xe kéo, loại xe này rất phổ biến khoảng thời gian 1939 ðến 1945. Một ðêm nọ, trời gần khuya, ông Trùm Mày định kéo xe về nghỉ nhung tự nhiên thay vì kéo xe chạy về phía cầu Gia Hội để về Nam Giao (qua cầu Truờng Tiền), ông ta lại kéo xe chạy theo đuờng Hàng Ðuờng để về cống Kẻ Trài. Xe chạy một quảng, ông bỗng thấy một cô gái mặc bộ đồ trắng, đội nón lá vừa buớc lên vừa đua tay vẫy vẫy ra hiệu cho xe ngừng lại.
Ông Trùm Mày vội vã ngừng xe, cô gái có vẻ hấp tấp vừa ði vừa chỉ về phía truớc vừa nói - tiếng nói nhỏ nhý sợ có ai nghe: - Chở tôi về bến đò chợ Bao Vinh.
Ông Trùm Mày cố định thần nhìn cho kỹ mặt cô gái nhung vì tóc cô để xõa nên chẳng thấy rõ mặt mày. Ðiều ông làm lạ là cô gái mảnh mai quá nên nhẹ tênh, ông kéo xe mà cảm thấy nhu chạy xe không. Qua khỏi cống Kẻ Trài và chạy độ hai muõi phút nữa, ông nghe tiếng trống trời khuya vọng lại. Bất giác ông chạy chậm xe và ngoái cổ lại ðể hỏi chuyện cô gái, nhung lạ lùng chua, cô gái không còn nữa. Chỗ ngồi trên xe kéo trống không và yên lặng một cách dễ sợ. Ông Trùm Mày sợ quá đến nổi gai ốc toàn thân, ông cấm đầu chạy thục mạng về nhà.
Sáng mai lại, ông đem chuyện lạ hồi hôm kể cho ông Lý Trýởng ở làng Bình An nghe. Nguời lão bộc trong nhà ông Lý Trýởng cho biết ở quảng đuờng gần cống Kẻ Trài đến bến đò Bao Vinh có một cái am nhỏ thờ cô gái bị chết trôi, truớc đó độ nãm nãm, cô gái này bị chết nõi bến ðò gần cống Kẻ Trài, xác nổi lên và tắp vào bờ, vuớng vào gốc và rễ những cây sanh già cỗi nõi bến và nhiều đêm hay xuất hiện than khóc hay chận đuờng nguời qua lại để hỏi thãm, chuyện trò hoặc xin đi nhờ nếu gặp ai có phuõng tiện chuyên chở đi qua đó. Theo nguời lão bộc (ông Ngọng) thì có lần hai nguời kéo xe bò qua đó cũng đã gặp cô gái từ duới bến sông (Ðông Ba) đi lên xin ði nhờ một quãng đuờng. Khi xe đi đuợc khoảng nửa tiếng, thì bỗng nhiên họ nghe một tiếng "Bõm" nhý có vật gì rõi xuống sông. Ngay lúc đó hai nguời đánh xe bò rởn tóc gáy vì cô gái trên xe đã biến mất tự bao giờ (lúc đó khoảng một giờ sáng).
Ở Huế có một địa danh đặc biệt là Ô Hồ. Xóm Ô Hồ gần truờng tiểu học Gia Hội (Huế). Anh Hinh trýớc ở làng Ðại Luợc sau lên thành phố Huế làm nghề đạp xích lô. Chuyện xảy ra vào mùa hè nãm 1956. Ở Huế muà hè rất nóng, anh Hinh thuờng đạp xe đến quá khuya mới trở về nhà. Ðêm ðó, theo lời anh kể hình nhu là đêm 13 âm lịch, trời đầy trãng sao. Lúc ðó khoảng 12 giờ khuya, anh đang đạp xe đi từ từ qua khỏi truờng tiểu học Gia Hội và định tới chỗ quẹo sẽ đạp xe về đuờng đi Muời Gian. Khi chiếc xe xích lô vừa đến ngã ba thì anh thấy một nguời đàn bà đứng ngay nõi chỗ quẹo và đua tay vẫy vẫy xe anh. Anh Hinh vội vã dừng xe lại. Duới ánh trãng, anh thấy rõ guõng mặt nguời đàn bà, rõ đến độ anh thấy nổi bật những dấu sẹo do bệnh ðậu mùa để lại trên guõng mặt nguời đàn bà. Anh hỏi:
- Chị về đâu?" Nguời đàn bà vừa trả lời vừa buớc lên xe:
- Cho tôi đến Chùa Bà.
Khi xe sắp đến đuờng quẹo thì nguời đàn bà ra dấu ngừng xe và lấy trong ví ra hai tời giấy bạc trao cho anh Hinh rồi lầm lũi đi vào một khu vuờn to lớn trồng toàn là nhãn và vải, anh Hing nhìn thấy hai tờ giấy loại 100 đồng và lấy làm lạ vì số tiền quá lớn cho một cuốc xe quá ngắn đuờng. Hay nguời đàn bà đã đua nhầm, tuởng đó là giấy 10 đồng, nhung 10 ðồng bạc cũng vẫn lớn đối với thời đó. Vốn là nguời luõng thiện, anh Hinh nghĩ bụng đêm quá khuya, khu vuờn nhà quá rộng và sâu hun hút không tiện vào kêu cửa, chi bằng sáng mai đạp xe ngang nếu thuận tiện ghé lại xem thử ra sao. Thế rồi anh ta cất kỹ hai tờ giấy bạc loại 100 ðồng vào cái bóp để trong túi áo. Truớc khi đạp xe về nhà, anh còn nhìn kỹ lại địa điểm mà nguời đàn bà có guõng mặt rỗ hoa đã buớc xuống xe để vào khu vuờn sầm uất. Ðiều đáng nhớ là ngay tại chỗ đó có một cây vông đồng rất lớn.
Sáng hôm sau, khoảng 10 giờ, anh Hinh đạp chiếc xích lô đến địa điểm hồi hôm. Anh dừng xe lại bên cạnh cây vông ðồng. Khu vuờn rộng âm u và yên tĩnh quá, anh đẩy xe vào vuờn. Xa tít phía trong khu vuờn là cãn nhà xua cổ, cửa đóng then gài. Có lẽ gia chủ đã ði vắng. Anh đẩy xe ra, quang cảnh yên lặng lạ thuờng, qua một giàn hoa lài rủ xuống thấp lè tè có một ngôi mộ. Ngôi mộ này đuợc chôn trong vuờn nhà. Trua hôm đó, anh ghé lại cái quán cõm gần Ô Hồ để ãn trua, khi mở cái bóp trả tiền anh ngạc nhiên không thấy hai tờ giấy bạc ðâu cả. Tìm mãi cũng chỉ có những đồng bạc lẽ mà anh đã có từ truớc. Nhung trong ví lại có hai tờ giấy trắng dài bằng cỡ hai tờ giấy bạc.
Anh ngẩn ngõ suy nghĩ. Bỗng nhiên một cảm giác lành lạnh chạy dọc theo đuờng xuõng sống... nhu có một linh tính vụt đến... anh hỏi ngay nguời bán quán về khu vuờn nõi gốc cây vông đồng và ngôi mộ trong výờn thì nguời bán quán cho biết nhu sau:
- Khu vuờn đó là của ông Cả Ðễ. Ông có một nguời vợ bé, bà này ở chung với bà vợ lớn và bị bà vợ lớn của ông Cả Ðễ ganh ghét, hành hạ đủ điều. Cách đây hai nãm, bà vợ bé bị bệnh đậu mùa, nguời trong nhà sợ bị lây bệnh tìm cách lánh xa. Sau đó bà vợ bé chết. Ông Cả Ðễ thuõng tiếc vô cùng, chôn ngay trong vuờn. Hiện nay trong ngôi nhà ấy chỉ có một mình ông Cả Ðễ thui thủi sống qua ngày nhờ nhuận lợi thu hoạch trong vuờn mà thôi. Bà vợ lớn thì ðã bỏ vào Ðà Nẵng lấy chồng khác. Ông Cả từ ðó có vẻ tàng tàng và mất trí..." Anh Hinh nghe đến đó thì tự nhiên tay chân run rẩy, mặt mày tái mét. Lúc bấy giờ anh mới kể hết mọi sự cho nguời chủ quán nghe. Sau cùng nguời chủ quán nói:
- Nhu vậy là anh đã gặp đúng nguời vợ bé của ông Cả Ðễ rồi! Với lại guõng mặt rỗ hoa thì chính là bà ấy rồi, nhung lạy vong linh bà ấy, bà linh hiển quá, tuy rằng bà ấy trả cho anh hai tờ giấy bạc giả, nhung theo ôn mệ (cha mẹ) tôi ngày truớc thuờng kể thì những nguời ðã giúp dỡ ma thuờng hay đuợc phù trợ. Nhu anh đã có lần chở hồn ma bà vợ bé ông Cả, chắc anh cũng sẽ đắt khách cho coi..."
Chuyện ma xin quá giang xảy ra không riêng gì tại một quốc gia nào. Nhiều tài liệu thu thập đuợc từ những chứng nhân ở nhiều quốc gia khác nhau. Họ là những nguời đã thấy rõ hồn ma và cũng chính họ đã cho những ma đó ði một đoạn đuờng.
Tại Việt Nam, không hiếm truờng hợp đã xảy ra. Một vài thí cụ điển hình mà chúng tôi xin luợc kể ra đây là những truờng hợp hoàn toàn có thật do các nhân chứng trong cuộc kể lại.
Ông Trùm Mày, nhà ở Nam Giao, Huế, chuyên nghề chạy xe kéo, loại xe này rất phổ biến khoảng thời gian 1939 ðến 1945. Một ðêm nọ, trời gần khuya, ông Trùm Mày định kéo xe về nghỉ nhung tự nhiên thay vì kéo xe chạy về phía cầu Gia Hội để về Nam Giao (qua cầu Truờng Tiền), ông ta lại kéo xe chạy theo đuờng Hàng Ðuờng để về cống Kẻ Trài. Xe chạy một quảng, ông bỗng thấy một cô gái mặc bộ đồ trắng, đội nón lá vừa buớc lên vừa đua tay vẫy vẫy ra hiệu cho xe ngừng lại.
Ông Trùm Mày vội vã ngừng xe, cô gái có vẻ hấp tấp vừa ði vừa chỉ về phía truớc vừa nói - tiếng nói nhỏ nhý sợ có ai nghe: - Chở tôi về bến đò chợ Bao Vinh.
Ông Trùm Mày cố định thần nhìn cho kỹ mặt cô gái nhung vì tóc cô để xõa nên chẳng thấy rõ mặt mày. Ðiều ông làm lạ là cô gái mảnh mai quá nên nhẹ tênh, ông kéo xe mà cảm thấy nhu chạy xe không. Qua khỏi cống Kẻ Trài và chạy độ hai muõi phút nữa, ông nghe tiếng trống trời khuya vọng lại. Bất giác ông chạy chậm xe và ngoái cổ lại ðể hỏi chuyện cô gái, nhung lạ lùng chua, cô gái không còn nữa. Chỗ ngồi trên xe kéo trống không và yên lặng một cách dễ sợ. Ông Trùm Mày sợ quá đến nổi gai ốc toàn thân, ông cấm đầu chạy thục mạng về nhà.
Sáng mai lại, ông đem chuyện lạ hồi hôm kể cho ông Lý Trýởng ở làng Bình An nghe. Nguời lão bộc trong nhà ông Lý Trýởng cho biết ở quảng đuờng gần cống Kẻ Trài đến bến đò Bao Vinh có một cái am nhỏ thờ cô gái bị chết trôi, truớc đó độ nãm nãm, cô gái này bị chết nõi bến ðò gần cống Kẻ Trài, xác nổi lên và tắp vào bờ, vuớng vào gốc và rễ những cây sanh già cỗi nõi bến và nhiều đêm hay xuất hiện than khóc hay chận đuờng nguời qua lại để hỏi thãm, chuyện trò hoặc xin đi nhờ nếu gặp ai có phuõng tiện chuyên chở đi qua đó. Theo nguời lão bộc (ông Ngọng) thì có lần hai nguời kéo xe bò qua đó cũng đã gặp cô gái từ duới bến sông (Ðông Ba) đi lên xin ði nhờ một quãng đuờng. Khi xe đi đuợc khoảng nửa tiếng, thì bỗng nhiên họ nghe một tiếng "Bõm" nhý có vật gì rõi xuống sông. Ngay lúc đó hai nguời đánh xe bò rởn tóc gáy vì cô gái trên xe đã biến mất tự bao giờ (lúc đó khoảng một giờ sáng).
Ở Huế có một địa danh đặc biệt là Ô Hồ. Xóm Ô Hồ gần truờng tiểu học Gia Hội (Huế). Anh Hinh trýớc ở làng Ðại Luợc sau lên thành phố Huế làm nghề đạp xích lô. Chuyện xảy ra vào mùa hè nãm 1956. Ở Huế muà hè rất nóng, anh Hinh thuờng đạp xe đến quá khuya mới trở về nhà. Ðêm ðó, theo lời anh kể hình nhu là đêm 13 âm lịch, trời đầy trãng sao. Lúc ðó khoảng 12 giờ khuya, anh đang đạp xe đi từ từ qua khỏi truờng tiểu học Gia Hội và định tới chỗ quẹo sẽ đạp xe về đuờng đi Muời Gian. Khi chiếc xe xích lô vừa đến ngã ba thì anh thấy một nguời đàn bà đứng ngay nõi chỗ quẹo và đua tay vẫy vẫy xe anh. Anh Hinh vội vã dừng xe lại. Duới ánh trãng, anh thấy rõ guõng mặt nguời đàn bà, rõ đến độ anh thấy nổi bật những dấu sẹo do bệnh ðậu mùa để lại trên guõng mặt nguời đàn bà. Anh hỏi:
- Chị về đâu?" Nguời đàn bà vừa trả lời vừa buớc lên xe:
- Cho tôi đến Chùa Bà.
Khi xe sắp đến đuờng quẹo thì nguời đàn bà ra dấu ngừng xe và lấy trong ví ra hai tời giấy bạc trao cho anh Hinh rồi lầm lũi đi vào một khu vuờn to lớn trồng toàn là nhãn và vải, anh Hing nhìn thấy hai tờ giấy loại 100 đồng và lấy làm lạ vì số tiền quá lớn cho một cuốc xe quá ngắn đuờng. Hay nguời đàn bà đã đua nhầm, tuởng đó là giấy 10 đồng, nhung 10 ðồng bạc cũng vẫn lớn đối với thời đó. Vốn là nguời luõng thiện, anh Hinh nghĩ bụng đêm quá khuya, khu vuờn nhà quá rộng và sâu hun hút không tiện vào kêu cửa, chi bằng sáng mai đạp xe ngang nếu thuận tiện ghé lại xem thử ra sao. Thế rồi anh ta cất kỹ hai tờ giấy bạc loại 100 ðồng vào cái bóp để trong túi áo. Truớc khi đạp xe về nhà, anh còn nhìn kỹ lại địa điểm mà nguời đàn bà có guõng mặt rỗ hoa đã buớc xuống xe để vào khu vuờn sầm uất. Ðiều đáng nhớ là ngay tại chỗ đó có một cây vông đồng rất lớn.
Sáng hôm sau, khoảng 10 giờ, anh Hinh đạp chiếc xích lô đến địa điểm hồi hôm. Anh dừng xe lại bên cạnh cây vông ðồng. Khu vuờn rộng âm u và yên tĩnh quá, anh đẩy xe vào vuờn. Xa tít phía trong khu vuờn là cãn nhà xua cổ, cửa đóng then gài. Có lẽ gia chủ đã ði vắng. Anh đẩy xe ra, quang cảnh yên lặng lạ thuờng, qua một giàn hoa lài rủ xuống thấp lè tè có một ngôi mộ. Ngôi mộ này đuợc chôn trong vuờn nhà. Trua hôm đó, anh ghé lại cái quán cõm gần Ô Hồ để ãn trua, khi mở cái bóp trả tiền anh ngạc nhiên không thấy hai tờ giấy bạc ðâu cả. Tìm mãi cũng chỉ có những đồng bạc lẽ mà anh đã có từ truớc. Nhung trong ví lại có hai tờ giấy trắng dài bằng cỡ hai tờ giấy bạc.
Anh ngẩn ngõ suy nghĩ. Bỗng nhiên một cảm giác lành lạnh chạy dọc theo đuờng xuõng sống... nhu có một linh tính vụt đến... anh hỏi ngay nguời bán quán về khu vuờn nõi gốc cây vông đồng và ngôi mộ trong výờn thì nguời bán quán cho biết nhu sau:
- Khu vuờn đó là của ông Cả Ðễ. Ông có một nguời vợ bé, bà này ở chung với bà vợ lớn và bị bà vợ lớn của ông Cả Ðễ ganh ghét, hành hạ đủ điều. Cách đây hai nãm, bà vợ bé bị bệnh đậu mùa, nguời trong nhà sợ bị lây bệnh tìm cách lánh xa. Sau đó bà vợ bé chết. Ông Cả Ðễ thuõng tiếc vô cùng, chôn ngay trong vuờn. Hiện nay trong ngôi nhà ấy chỉ có một mình ông Cả Ðễ thui thủi sống qua ngày nhờ nhuận lợi thu hoạch trong vuờn mà thôi. Bà vợ lớn thì ðã bỏ vào Ðà Nẵng lấy chồng khác. Ông Cả từ ðó có vẻ tàng tàng và mất trí..." Anh Hinh nghe đến đó thì tự nhiên tay chân run rẩy, mặt mày tái mét. Lúc bấy giờ anh mới kể hết mọi sự cho nguời chủ quán nghe. Sau cùng nguời chủ quán nói:
- Nhu vậy là anh đã gặp đúng nguời vợ bé của ông Cả Ðễ rồi! Với lại guõng mặt rỗ hoa thì chính là bà ấy rồi, nhung lạy vong linh bà ấy, bà linh hiển quá, tuy rằng bà ấy trả cho anh hai tờ giấy bạc giả, nhung theo ôn mệ (cha mẹ) tôi ngày truớc thuờng kể thì những nguời ðã giúp dỡ ma thuờng hay đuợc phù trợ. Nhu anh đã có lần chở hồn ma bà vợ bé ông Cả, chắc anh cũng sẽ đắt khách cho coi..."